RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH THỂ LOẠI TRỮ TÌNH DÂN GIAN
In trang
RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH THỂ LOẠI TRỮ TÌNH DÂN GIAN

RÈN KĨ NĂNG PHÂN TÍCH THỂ LOẠI TRỮ TÌNH DÂN GIAN

PHẦN I: MỞ ĐẦU

          Văn học dân gian là một thành tố quan trọng của văn hóa dân gian. Văn hóa dân gian là toàn bộ sáng tạo văn hóa, nghệ thuật dân gian gồm cả văn học dân gian, nghệ thuật biểu diễn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian, hội lễ dân gian… Văn học dân gian (văn học bình dân, văn học truyền miệng) là những sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời viễn cổ, phát triển qua các thời kì lịch sử, đến cả hôm nay và mai sau. Nó có những đặc trưng riêng so với văn học viết.

          Văn học dân gian gồm 12 thể loại. Thể loại là đơn vị cơ bản của văn học dân gian. Việc tìm hiểu văn học dân gian phải thông qua việc tìm hiểu các thể loại văn học dân gian. Mỗi thể loại là một hệ thống các tác phẩm, có sự thống nhất tương đối trong sự biểu hiện một mảng đời sống xã hội nhất định, trong lối phô diễn và xây dựng hình tượng nhân vật. Căn cứ vào đặc trưng từng thể loại văn học dân gian, người ta cũng có thể chia 12 thể loại đó vào 03 nhóm lớn:

          - Tự sự dân gian: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn.

          - Trữ tình dân gian: truyện thơ, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè.

          - Sân khấu dân gian: chèo.

          Trong các thể loại trữ tình dân gian có thể nhận thấy ca dao là thể loại tiêu biểu với số lượng lớn các bài ca dao với sự phản ánh phong phú đời sống tâm hồn người bình dân trong xã hội xưa. Bên cạnh đó ca dao cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác văn học viết từ văn học trung đại đến văn học hiện đại, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật. Việc tìm hiểu ca dao cũng là một trong những việc làm quan trọng để hiểu sâu sắc hơn đời sống tinh thần của người bình dân xưa. Trong phạm vi chuyên đề này sẽ tổng hợp lại một số kiến thức cơ bản nhất về ca dao để từ đó đưa đến một cách cảm nhận ca dao toàn diện, sâu sắc trên nhiều phương diện.

PHẦN II: NỘI DUNG

I. Khái quát về ca dao:

Ca dao là một trong những thể loại chủ yếu của nền văn học dân gian Việt Nam. Đó là những câu ca, những bài hát ngắn dùng các thể thơ dân tộc, biểu hiện tâm trạng, cảm nghĩ của người dân. Ca dao là bầu sữa tinh thần nuôi dưỡng trẻ thơ (hát ru), là hình thức trò chuyện tâm tình của những chàng trai, cô gái (hát ví, hát xoan, hát ghẹo), là tiếng nói biết ơn, tự hào về công đức của tổ tiên và anh linh của những người đã khuất (bài ca hội lễ…), là phương tiện bộc lộ nỗi tức giận hoặc lòng hân hoan của những người sản xuất (hò, lí).

Ca dao thuộc thể loại trữ tình dân gian, là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc. Đến với ca dao, ta như bắt gặp những tâm trạng, tình cảm, rung động sâu xa tinh tế của chính lòng mình.

Ca dao có sức sống lâu dài và bền vững trong kí ức nhân dân. Ngoài kho tàng ca dao phong phú của người Việt, còn phải kể tới kho báu ca dao các tộc ít người như lượng của Tày, sli của Nùng, bọ mẹng của Mường, gầu plềnh của Hmông…

II. Phân loại ca dao

          Có nhiều cách để phân loại ca dao, ví dụ có thể phân loại dựa theo đề tài, theo hình thái lịch sử, theo thành phần xã hội của chủ thể trữ tình, theo chức năng sinh hoạt , theo hình thức diễn xướng, theo địa phương… Trong mỗi cách phân loại, ca dao đều được chia ra gồm các tiểu loại khác nhau, tuy nhiên trong mỗi cách phân loại đó đều có sự hạn chế nhất định. Ví dụ phân chia ca dao theo đề tài có thể chia ra làm 3 tiểu loại:

- Ca dao về lao động sản xuất

- Ca dao về tình yêu hôn nhân

- Ca dao về làng xóm, quê hương, đất nước

Cách phân chia này có hạn chế vì trong mỗi bài ca dao đều có ít nhiều đề cập đến các đề tài khác nhau.

          Cho đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu vẫn thống nhất một cách phân loại ca dao chung nhất, phổ biến nhất căn cứ trên nội dung ca dao phản ánh, gồm 3 tiểu loại:

- Lời ca dao than thân, tổ cáo, phản kháng: bản thân chủ thể cất lên tiếng ca, hướng về chính bản thân mình để bộc lộ cảm xúc.

- Lời ca dao yêu thương tình nghĩa: hướng về bạn bè, đồng loại, làng xóm, đất nước quê hương.

- Lời ca dao hài hước, châm biếm: hướng về những thói hư tật xấu, những cái đáng cười trong đời sống xã hội để mua vui, giải trí, để châm biếm, phê phán.

Đó là những chiều hướng cảm xúc chủ đạo trong ca dao truyền thống từ trước đến nay.

III. Một số nét đặc trưng thi pháp ca dao

1. Khái niệm thi pháp văn chương

– Khái niệm chung: Thi pháp là cơ chế vận hành ngôn ngữ, tạo nên vẻ đẹp của tác phẩm văn học . Khoa học này được áp dụng trong cả văn học viết và văn học dân gian

– Thi pháp ca dao: Thi pháp ca dao là toàn bộ những đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và nghệ thuật miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, phương pháp xây dựng hình tượng con người hay sự vật để bộc lộ cảm xúc.

2. Những đặc trưng cơ bản của thi pháp ca dao Việt Nam. 

2.1.Cái tôi trữ tình trong ca dao:

Nếu trong tác phẩm tự sự, đối tượng hướng đến là thế giới khách quan- những gì xảy ra ở ngoài thực tại, độc lập với con người, nội tâm được ngoại hiện bằng hành động, những lời nói, cử chỉ của nhân vật… thì trong tác phẩm trữ tình, đối tượng hướng đến để phản ánh là đời sống nội tâm, cảm xúc của con người trước thực tại. Trong quá trình tìm hiểu ca dao, một công việc quan trọng là cần tìm hiểu về cái tôi trữ tình. Ca dao cũng như các thể loại khác của VHDG mang tính tập thể trong sáng tác, tính truyền miệng trong lưu hành, giao tiếp khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân, cá thể. Trong ca dao dân ca Việt Nam, cái tôi trữ tình thường là những cảm xúc chủ đạo được thể hiện tinh tế, đa dạng.

Cái tôi trữ tình trong ca dao thường được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình, đó là hình tượng nhân vật trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình trong ca dao cũng rất đa dạng, phong phú: có khi là 1 cô gái, có khi là 1 chàng trai, có khi là hình tượng người mẹ, có khi lại là tiếng nói tâm tư của người bình dân trong xã hội xưa gửi gắm qua những hình ảnh mang tính biểu tượng. Qua ca dao ta cảm nhận được sâu sắc nhịp trái tim yêu thương của người bình dân với tất cả sự ấm áp, ngọt ngào cùng tình yêu thương, lòng lạc quan, nghị lực ý chí phi thường vượt lên mọi khổ cực của cuộc sống.

Trong ca dao Việt Nam, chủ thể trữ tình được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đối tượng trữ tình, biểu hiện qua hai loại nhân vật:

+ Nhân vật hiển ngôn: hình tượng con người được trực tiếp thể hiện tình cảm, bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, cảm xúc trong lời ca (người con gái, người con trai, người mẹ…)

+ Nhân vật biểu tượng: thông qua biểu tượng, con người bộc lộ tâm tư cảm xúc với nhau, đó là những biểu tượng gần gũi với con người Việt Nam: con cò, con thuyền, cây đa, bến nước, sân đình….

          Khi phân tích cái tôi trữ tình trong ca dao, cần chú ý đặt cái tôi đó trong một ngữ cảnh cụ thể để hiểu sâu sắc tình, ý mà bài ca dao đó gửi gắm. Nhân vật trữ tình hiện lên trong sinh hoạt hằng ngày, cuộc sống lao động, trong mối quan hệ với thiên nhiên, gia đình, làng xóm. Tiếng nói của nhân vật trữ tình trong ca dao có khi là đối thoại giữa 2 nhân vật (lời giao duyên, ướm hỏi…), có khi là lời độc thoại nội tâm để tỏ bày, giãi bày tình cảm, cảm xúc.

VD: Đối thoại:

“Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin/ Hay là em để làm tin trong nhà.

Hoặc:

“Đôi ta như lửa mới nhen/ Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu”

Độc thoại:

“Nhớ ai con mắt lim dim/ Chân đi thất thiểu như chim tha mồi.

Nhớ ai hết đứng lại ngồi/ Ngày đêm tưởng nhớ một người tình nhân.”

Khi phân tích ca dao, cũng cần chú ý đến cảm xúc, tâm tư của nhân vật trữ tình thể hiện qua cách sắp đặt từ ngữ, hình ảnh. Tình cảm đó được bộc lộ bằng nhiều giọng điệu: tâm tình sâu lắng, trách móc, giận hờn, đau buồn, xót xa, nói bóng gió, hồn nhiên vui tươi… Trong 1 câu, 1 bài ca dao luôn đa nghĩa khi ở các hệ quy chế khác nhau, bởi vậy khi tìm hiểu, người tiếp nhận cần quan tâm đến các khía cạnh, đặt trong ngữ cảnh cụ thể.

          Ví dụ trong câu ca dao:

“Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím/ Em có chồng rồi trả yếm cho anh.”

Nếu ở đây chủ thể là chàng trai đòi lại kỉ vật thì đó là người coi trọng vật chất, so bì thiệt hơn, nhỏ nhen, xử sự không mấy đẹp đẽ. Và khi đáp lại thì lời của cô gái sẵng giọng, cũng “ngoa ngoắt” không kém:

“Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh/ Yếm em, em mặc, yếm gì anh, anh đòi!”

Nhưng nếu chủ thể là cô gái (qua hai dòng đầu) thì cả cô gái và chàng trai đều là những người xử sự đẹp. Yêu nhau không lấy được nhau, người con gái chủ động trả lại kỉ vật đã thuộc về cô gái, anh ta không có quyền nhận lại. Qua đó thấy được nghịch cảnh đáng buồn, sự nuối tiếc về mối tình dang dở của chàng trai và cô gái.

Đây là ví dụ điển hình về nhân vật trữ tình trong ca dao. Tuy nhiên, do có sự lưu truyền nên ca dao như có phần khái quát hơn, nó không còn đề cập đến cá nhân cụ thể là chàng trai hay cô gái mà đã được xem như câu hát chung cho mọi đối tượng: cá nhân, cá thể trong ca dao đã phai nhạt mà thay vào đó tính cộng đồng đã được hiện hóa.

2.2.Thời gian và không gian.

a)Thời gian

Thời gian trong ca dao là thời gian được tái tạo, tổ chức theo một dụng ý nghệ thuật nào đó. Nó bao gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian nghệ thuật trong ca dao thường được biểu hiện qua những nhóm từ ngữ cụ thể :

- Nhóm từ ngữ biểu hiện thời gian quá khứ: hôm qua, ngày nào, ngày xưa…

- Nhóm từ ngữ biểu hiện thời gian hiện tại: hôm nay, bây giờ, chiều nay…

- Nhóm từ ngữ biểu hiện thời gian tương lai: bao giờ, mai sau, mai này…

Trong ca dao, các chiều thời gian có mối liên hệ rõ nét. Thời gian quá khứ và thời gian tương lai thường được nhắc đến để lột tả một tâm tư tình cảm nào đó của nhân vật trữ tình trong chính thời gian hiện tại.

"Hôm qua tát nước đầu đình

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin

Hay là em để làm tin trong nhà"

Thời gian quá khứ “ hôm qua” chỉ là cái cớ để chàng trai thổ lộ tình yêu thương của mình đối với cô gái .

Còn trong một bài ca dao khác, cô gái lại mượn cách nói tới thời gian tương lai để khẳng định tình cảm sâu nặng của mình trong hiện tại:

" Bao giờ muối ngọt chanh thanh

Em đây mới dám bỏ anh lấy chồng"

Bên cạnh đó còn có kiểu thời gian đối lập. Việc đặt hai yếu tố thời gian đối lập nhau không phải là sự ngẫu nhiên mà đó là sự biểu hiện của thi pháp ca dao.

Ví dụ: Thời gian quá khứ đặt bên cạnh thời gian hiện tại để biểu thị sự vận động, thay đổi. Thời gian thay đổi, con người, sự vật cũng thay đổi. Thường đây là sự thay đổi của đối tượng trữ tình (là sự thay đổi tình cảm)

Khi miêu tả thời gian đối lập, tác giả dân gian thường sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ.

"Ngày đi, trúc chửa mọc măng,

Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn tre.

Ngày đi, lúa chửa chia vè,

Ngày về, lúa đã đỏ hoe giữa đồng.

Ngày đi, em chửa có chồng

Ngày về, em đã con bồng, con mang"

Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại được tạo ra thường để thể hiện nỗi ngậm ngùi, xa xót, nuối tiếc, đau thương của nhân vật trữ tình về những sự đổi thay trong tình yêu, trong cuộc sống.

Ca dao Việt Nam thường có sự lặp lại một cách có ý nghĩa các từ ngữ biểu thị thời gian. Căn cứ vào hệ thống từ ngữ biểu thị thời gian này chúng ta sẽ nắm vững hơn nội dung ý nghĩa của những bài ca dao cũng như hiểu sâu sắc hơn về tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật trữ tình… Sau đây là một số công thức miêu tả thời gian ( mô típ thời gian) trong ca dao:

* Mô típ thời gian “ chiều chiều”

"Chiều chiều" là thời điểm của gặp gỡ, đoàn tụ, trở về . Vậy mà vào thời điểm này, người phụ nữ lấy chồng xa quê thì bơ vơ nơi đất khách quê người; các chàng trai, cô gái lại phải cô đơn vì xa cách người thương. Thế nên khi họ cất lên câu hát là cả một khoảng trời nhớ thương khắc khoải hiện về.

Đây là lời của cô con gái nhớ mẹ với bao niềm day dứt, trăn trở :

"Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều"

Chiều chiều! Nốt nhạc đã dạo đầu cho một môtíp gợi buồn. Đằng sau nốt nhạc ấy hiện lên chân dung một cô gái lấy chồng xa quê, trong lòng cồn cào bao nỗi nhớ về gia đình, quê hương. Quê mẹ có khi cách trở nghìn trùng, có khi chỉ cách có một quãng đồng mà hóa ngàn dặm xa xôi, bởi một lẽ thời phong kiến, người con gái có chồng là đóng khung cuộc đời mình ở nhà chồng. Bài ca dao mở đầu là “chiều chiều” khép lại là “chín chiều” gợi bao nỗi xót xa cho thân phận những người phụ nữ thời phong kiến.

Ở một lời ca khác, nỗi nhớ đã trở thành nỗi đau tột cùng khi người con gái chạm vào màn sương của sự mất mát:

"Chiều chiều xách giỏ hái rau

Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần"

Hình ảnh người mẹ đã tan vào khói sương của hoài niệm. Chỉ còn lại trong trái tim người con một nỗi đau không bao giờ nguôi ngoai. Nỗi đau ấy lại tiếp tục cộng hưởng ở những thế hệ bạn đọc mai sau.

Còn dưới đây là nỗi nhớ của những người yêu nhau:

"Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai"

Chiều chiều đã trở thành điểm hẹn của nỗi nhớ, điệp khúc của sự chờ đợi. “Người quân tử”- đối tượng của nỗi nhớ ấy vừa gần gũi, vừa xa xôi, vừa thực vừa mộng, vừa là một chàng trai cụ thể vừa là một chàng trai trong tâm tưởng, tưởng tượng.

Chiều chiều là thời điểm diễn xướng chủ yếu của ca dao dân ca trữ tình. Câu hò điệu hát vang lên trên dòng kinh, bên cây đa, bến nước, sân đình… nhiều nhất vào thời điểm ấy. Đây cũng là thời điểm các chàng trai, cô gái lao động mạnh dạn bày tỏ tâm tư tình cảm của mình:

"Chiều chiều ra đứng bờ ao

Nước kia không khát, khát khao duyên nàng"

"Chiều chiều vịt lội đầm sen

Để anh lên xuống làm quen ít ngày"

" Chiều chiều vịt lội sang sông

Trời gầm đá nẻ thiếp không bỏ chàng"

* Mô típ thời gian “Đêm khuya”

Đêm khuya là thời khắc yên tĩnh, quạnh vắng, mờ mịt, tăm tối. Trong đêm khuya nhiều khi cũng xuất hiện yếu tố ánh sáng ( trăng, sao, đèn…) nhưng ánh sáng thường được miêu tả một cách mờ nhạt: Trăng: mờ, tàn, lụi, xế; Sao: mờ; Đèn:dầu cạn, tim bấc cháy lụi, đĩa dầu hao…Những yếu tố này góp phần hỗ trợ cho không gian u tối, mờ mịt của đêm khuya và khắc hoạ rõ nét nỗi sầu nhớ, tương tư của chủ thể trữ tình:

"Đêm khuya ngồi dựa phòng loan,

Thực tình nhớ bạn hai hàng luỵ rơi"

"Đêm khuya nguyệt lặn, sao tàn,

Đồng hồ nhặt điểm nhớ nàng không nguôi".

"Đêm khuya thắp chút dầu dư,

Tim lang cháy lụi sầu tư một mình".

"Đêm khuya trăng lặn, dầu hao,

Anh ở chỗ nào nói lại em hay"

Không gian đêm khuya còn là không gian lạnh lẽo, gió bấc, sương sa. Trong hoàn cảnh đó, nhân vật trữ tình được miêu tả lẻ loi, đơn chiếc với tâm trạng ngóng trông, đợi chờ khắc khoải.

"Đêm khuya em ngồi dựa mé hiên đình

Sương sa, gió lạnh không thấy mình vãng lai"

 

b)Không gian:

Ca dao là tiếng nói của người bình dân lao động. Bởi thế trong những bài ca dao là hình ảnh gần gũi, bình dị ở làng quê, là phương tiện để nhân vật bộc lộ tâm tư, cảm xúc suy nghĩ của mình. Đây là không gian trần thế, đời thường gắn với môi trường sống thân thuộc với con người bình dân.

Bên cạnh tính xác thực, không gian nhiều khi cũng mang tính phiếm chỉ và bị chi phối bởi cảnh quan của nhân vật trữ tình.

+ Không gian địa lí: những câu ca dao viết về miền quê cụ thể, địa danh cụ thể qua đó thể hiện niềm tự hào tình yêu quê hương thiết tha sâu nặng:

+Không gian vật lí: ở đó người bình dân sinh sống, làm lụng, tình tự, than thở

+ Không gian xã hội: mối quan hệ đa dạng giữa người với người:

Ngoài ra còn có một số không gian tiêu biểu như:

+Không gian thề nguyền: trăng sao, cây đa, bến đò… thể hiện sự bất biến, vĩnh hằng

+ Không gian đối lập: xa-gần, đông-tây... thể hiện sự cách trở, không hòa hợp, ngang trái

+ Không gian tâm lí: không có thực, được nhận diện bằng cái nhìn khác thường đầy chủ quan.

2.3. Một số mô típ phổ biến trong ca dao:

Trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng có những từ ngữ, hình ảnh được lặp đi lặp lại tạo ra hiệu quả nghệ thuật đặc biệt được gọi là môtip. Mô tip nghệ thuật chính là những kiểu mẫu, những biểu tượng mang giá trị tượng trưng. Ca dao Việt Nam xuất hiện rất nhiều môtip. Trong đó có hai nhóm môtip thường gặp là môtip hình ảnh (chiếc cầu, dải yếm, chiếc khăn, cái áo...) và môtip thời gian (Hôm qua, khi xưa, bây giờ, chiều chiều, trăm năm, đêm khuya ...). Ở đây, chúng ta đi vào tìm hiểu một số những hình ảnh mang tính biểu tượng, trở thành những mô típ trong ca dao truyền thống, mang ý nghĩa giá trị sâu sắc.

* Môtip chiếc cầu

Trong đời sống của người bình dân, chiếc cầu là hình ảnh thân thuộc, gần gũi. Chiếc cầu bắc qua dòng sông nối liền đôi bờ, trở thành nơi gặp gỡ, hò hẹn, đón đưa. Chiếc cầu trước hết xuất hiện với ý nghĩa thực. Đó có thể là nơi cô gái đứng đợi người yêu trở về :

"Thương thương, nhớ nhớ, sầu sầu

Một ngày ba bận ra cầu ngóng trông

Thấy người Nam, Bắc, Tây, Đông

Thấy người thiên hạ mà không thấy chàng"

Các cô gái đôi khi mượn cầu yếu, cầu chênh vênh để được người yêu dắt qua, để được gần nhau :

" Cầu cao, ván yếu gió rung

Em không đi được cậy cùng có anh".

Còn chàng trai thể hiện quyết tâm vượt qua mọi khó khăn thử thách để vun đắp tình yêu bằng những câu ca dao tha thiết, cảm động :

" Xa nhau anh muốn lại gần

Cầu không tay vịn, anh lần anh sang"

Nhưng từ chiếc cầu thực, người lao động xưa lại liên tưởng đến chiếc cầu trừu tượng theo phương thức ẩn dụ để bày tỏ biết bao tâm tư, tình cảm, nỗi niềm. Chiếc cầu trừu tượng có thể là cành hồng, là ngọn mồng tơi, là cành trầm, là sợi chỉ hay dải yếm ... Đó là chiếc cầu tình yêu chân thành, gắn kết bao lứa đôi chung thuỷ:

" Cô kia cắt cỏ bên sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang"

Chiếc cầu cành hồng chỉ có trong trí tưởng tượng, mang tính ước lệ. Chiếc cầu nên thơ này là sản phẩm của tư duy sáng tạo thẩm mĩ giúp chàng trai tỏ tình với cô gái. Lời tỏ tình thật đáng yêu, thể hiện tấm lòng trân trọng nâng niu người con gái. Có khi chiếc cầu lại được bắc bởi cành trầm "lá dọc lá ngang" để thử thách cô gái. Chàng trai mong đợi người con gái có bản lĩnh, mong đợi tấm chân tình bền vững :

"Cách nhau có một con đầm

Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang

Cành trầm lá dọc lá ngang

Đố người bên ấy bước sang cành trầm"

Từ hình ảnh cây rau mồng tơi quen thuộc ở nông thôn, các chàng trai bình dân xưa mượn để bắc cầu tình yêu với bao khao khát, ước mong :

" Gần đây mà chẳng sang chơi

Để anh ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu"

Nếu như các chàng trai mượn cành hồng, cành trầm, ngọn mồng tơi để bắc những nhịp cầu thương nhớ thì người con gái bắc cầu sợi chỉ giúp người yêu giảm mối sầu tương tư :

"Sông cách sông, thuỷ cách thuỷ

Em se sợi chỉ, em bắc cây cầu

Để anh sang giảm mối sầu tương tư"

Nhịp cầu trong trí tưởng tượng của người con gái còn có thể là dải yếm - Đó là chiếc cầu tình yêu đầy nữ tính, gợi cảm nhất :

"Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi"

Dải yếm là vật thân thiết, riêng tư của người con gái, chiếc cầu dải yếm chỉ có thể bắc riêng cho một người thương yêu duy nhất. Chiếc cầu dải yếm là hình tượng ẩn dụ để cô gái chủ động bày tỏ bộc lộ tình yêu rạo rực, cháy bỏng nhưng đằm thắm, vượt qua khỏi sự chi phối của lễ giáo phong kiến khắt khe. Đó là tiếng nói khẳng định tình yêu tự do, mãnh liệt.

*Môtip dải yếm

Dải yếm không chỉ đóng vai trò là một trong những hình ảnh biểu tượng cho cây cầu tình yêu, cho khát khao hạnh phúc như trên mà đối với người phụ nữ xưa, dải yếm còn là vật dụng trang sức gần gũi, thân thiết góp phần tôn lên vẻ đẹp nữ tính. Dải yếm trước hết là biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái. Nhắc đến người thiếu nữ đẹp, nhân dân lao động thường nghĩ tới hình ảnh cô nàng yếm thắm, má hồng:

" Chiều quê hóng mát đầm sen

Kìa cô yếm thắm cười duyên đậm đà"

Trong tình yêu, dải yếm là cầu nối để gặp gỡ, tình tự, giao duyên. Chúng ta hãy cùng cảm nhận cái duyên thầm trong lời tỏ tình vòng vo, bóng gió mà kín đáo ý nhị của chàng trai xưa :

-         " Hỡi cô mặc áo yếm hồng

Đi trong đám hội có chồng hay chưa?

Hỡi cô yếm thắm răng đen

Muốn lên mạn ngược ngồi thuyền cùng anh"

-         "Hỡi cô yếm thắm kia là

Lại đây anh gửi lược ngà cùng gương

Gửi cho đi nhớ về thương

Gửi cho đến chốn buồng hương lạnh lùng"

Tưởng chừng chỉ yếm thắm, yếm đào mới khiến chàng trai ngỏ ý ướm lời. Nhưng ở một bài ca dao khác, chính sự mộc mạc chân chất và có phần vất vả của cô gái mặc yếm trắng lòa xòa kia lại đánh thức tình cảm chân thành của chàng trai:

"Hỡi cô gái yếm trắng lòa xòa

Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm.

Ước gì anh được ở gần

Để anh nhuộm hộ thấm nhuần công anh"

Nếu yếm thắm với màu đỏ tươi tắn thường biểu hiện sự sung sướng, hạnh phúc cũng như vẻ đẹp nhan sắc thì yếm trắng trong bài ca dao này lại gợi lên hoàn cảnh cực nhọc, vất vả của cô gái dãi nắng dầm sương. Chính hoàn cảnh ấy, chính dải "yếm trắng lòa xòa" đã là cái cớ để chàng trai mở lòng mình với cô gái. Một sự ao ước giản dị mà tinh tế: ao ước được "ở gần" để giúp em nhuộm màu chiếc yếm cũng chính là để chia sẻ bớt những khó khăn, vất vả trong cuộc sống, để trao em tình yêu chân thành, vị tha. Như vậy, dải yếm đã trở thành cái cớ để ký thác tâm tư, mời gọi giao duyên, tình tự trăm năm. Dải yếm gợi cảm mang bao nhiêu niềm thương nỗi nhớ, mang hơi ấm và nhịp đập trái tim làm dấy lên khao khát hạnh phúc lứa đôi.

Dải yếm không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái, không chỉ là chiếc cầu nối để gặp gỡ, tình tự, trao duyên, dải yếm còn là biểu tượng cho tình yêu thuỷ chung, son sắt .Dải yếm đã đi vào nỗi nhớ, đánh thức những kỉ niệm ngọt ngào của tình yêu sâu đậm

-         "Ta về ta cũng nhớ mình

Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao"

-         "Thương anh chẳng biết để đâu

Để trong dải yếm lâu lâu lại nhìn"

Dải yếm tình yêu có một sức mạnh kì diệu :

"Trời mưa, trời gió kìn kìn

Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông"

Chính trong cái lạnh lẽo của thời tiết khắc nghiệt, trong nỗi buồn cô đơn, trống trải vì xa cách, chàng trai lại cảm thấy ấm áp vì bên anh đã có đôi dải yếm của người yêu, vì anh luôn hi vọng vào một tương lai tốt đẹp vững bền. Dẫu biết rằng chàng trai thi vị hóa, lí tưởng hóa hiện thực cuộc sống để tận hưởng sự ấm áp kì lạ từ đôi dải yếm của người yêu song ta cũng phải thừa nhận rằng: chính tình yêu đã làm cho cuộc đời anh "nở hoa kết trái". Phải chăng câu ca dao muốn gửi đến thông điệp : Hãy biết trân trọng tình yêu. Vì chính sức mạnh tình yêu sẽ "sưởi ấm tâm hồn, xua tan cái lạnh lòng đáng sợ" giúp con người vượt lên trên khó khăn, thử thách của đời sống .

Đến với bài ca dao khác, ta sẽ cảm nhận được sức mạnh mới mà đôi dải yếm mang lại:

"Thuyền anh mắc cạn lên đây

Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền"

Thật ngộ nghĩnh và dễ mến. Một cái cớ được đặt ra thật lạ mà có lẽ chỉ có trong ca dao, ở lối tư duy đặc biệt của người đang yêu. Ai cũng biết dải yếm đâu thể dùng làm dây huống hồ lại làm dây kéo thuyền mắc cạn. Thực ra đây chỉ là cái cớ vì nó ngược với logic thông thường. Đằng sau cái cớ tưởng chừng "vớ vẩn" này còn gì khác hơn là thừa nhận sự quan trọng của đôi dải yếm ? Chỉ có đôi dải yếm em đeo mới giúp được thuyền anh vượt qua khó khăn. Và cũng chỉ nhờ yếm em, thuyền anh mới có thể sinh tồn, trở về nơi sông bể. Thế cho nên yếm em chính là tình em. Thuyền anh, vì thế cũng trở thành thuyền tình khát khao vượt qua sông ngăn bể cách để cập bến tình duyên. Mượn chuyện dải yếm để khẳng định sức mạnh của tình yêu. Chỉ có tình yêu mới mang lại ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

Như vậy, dải yếm có tầm quan trọng đặc biệt trong ca dao tình yêu. Tác giả dân gian đã khéo léo thổi hồn mình vào dải yếm thanh mảnh, biến nó thoát khỏi chức năng thông thường để thể hiện tình cảm, nỗi khát khao tình yêu, hạnh phúc và sự thông minh, hóm hỉnh của mình. Nhìn từ góc độ thi pháp, dải yếm - cũng như thuyền, bến, áo, khăn, ... - hoàn toàn có thể trở thành một biểu tượng trong ca dao tình yêu, biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái, là cầu nối để gặp gỡ, tình tự, giao duyên, biểu tượng của tình yêu thủy chung, son sắt.

*Mô típ con cò:

Đã từ lâu, hình ảnh con cò đã đi vào ca dao với tất cả vẻ đẹp của nó. Người nông dân đã gửi gắm niềm vui, nỗi buồn, sự cực nhọc, vất cả trong những cánh cò ca dao. Dường như thiếu những cánh cò ấy ca dao sẽ nghèo đi biết mấy. Con cò làm tổ trên cành tre, con cò kiếm ăn trên đồng ruộng, bãi sông, không ăn lúa mà bắt cá, bắt tép… Cứ như vậy, những cánh cò trắng muốt cứ in bóng trong suốt chiều dài của ca dao.

Đi vào trong văn học, con cò trở thành một biểu tượng nghệ thuật đầy sáng tạo của cha ông ta khi nó gắn liền với hình ảnh người nông dân lam lũ, chịu thương chịu khó, cần cù vất vả trên đồng ruộng:

          Trời mưa quả dưa vẹo vọ

          Con ốc nằm co

          Con tôm đánh đáo

          Con cò kiếm ăn

          Họ cũng là những người luôn chịu số phận hẩm hiu, bất hạnh trong xã hội: “Con cò đậu cọc bờ ao/ Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua.”

Hình ảnh người nông dân nhất là người phụ nữ lam lũ, lầm lụi: “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non/ Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

Trong hoàn cảnh bị áp bức, bị chà đạp, bị oan ức, họ vẫn muốn, dù phải chết, cũng phải chết trong sự trong sạch:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Đó là vẻ đẹp của nhân cách con người Việt Nam, sống trong không sống đục, có chết thì cũng phải là cái chết trong. Người nông dân Việt Nam còn có tư tưởng lớn, cực kì cao thượng về cách sống. Họ đã sáng tạo hình tượng người đi trước, lo trước cái lo của thiên hạ, hưởng sau thiên hạ, người hi sinh để đưa lại hạnh phúc cho mọi người qua hình tượng: “Con cò đi đón cơn mưa/ Tối tăm mù mịt ai đưa cò về”.

          Nhưng cũng có khi cánh cò cũng xuất hiện trong những câu ca dao bày tỏ tình yêu đôi lứa: “Con cò núp bụi lúa xanh/ Chờ con cá đến như anh chờ nàng/ Con cò núp bụi lúa vàng/ Chờ con cá đến như nàng chờ anh”. Một cánh cò thôi mà bay khắp mọi miền đất nước, xuyên thấu mọi thời gian, cánh cò “ bay lả bay la” từ chiều sâu quá khứ đến chiều dài hôm nay, cánh cò lại bay vào lời ru của mẹ, lời dạy của cô, lời tâm sự với bạn bè.

Tóm lại, hình tượng con cò đã trở thành một mô-típ đậm đặc bản sắn dân tộc và tính nhân dân, thường khơi gợi ở lòng người nhiều tình cảm và kỉ niệm về quê hương đất nước.

*Mô típ hoa nhài

Ông cha ta đã dùng hình ảnh của hoa nhài để miêu tả cảnh xứng đôi vừa lứa: “Đôi ta lấm tấm hoa nhài/ Chồng đây vợ đấy kém ai trên đời.” Chỉ “lấm tấm” thôi, nghĩa là không có gì to tát, lớn lao cả. Ấy là vẻ đẹp hiền hòa, bình dị mà chẳng thoáng chút mặc cảm, tự ti nào vì có “kém ai” đâu!

Hương thơm của hoa nhài còn tượng trưng cho sự thanh tao, quý giá, trang nhã, văn minh lịch sự của con người: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”.

Vẻ đẹp của hoa nhài thường được ví với nụ cười đáng yêu của người con gái: “Miệng cười như cánh hoa nhài/ Như nụ hoa quế như tai hoa hồng”

          Vị trí của hoa nhài trong ca dao không chiếm ưu thế như hoa hồng, hoa mai. Đấy là thứ hoa biết khiêm tốn, có chút e lệ, khép kín: “Chơi hoa cho biết mùi hoa/ Thứ nhất hoa lí thứ ba hoa nhài”. “Hoa lí là chị hoa lài/ Hoa lí có tài hoa lài có duyên”.

Trong ca dao, hoa nhài là một thứ hoa đẹp với vẻ đẹp hài hòa, bình dị. Qua đó, ta thấy được quan niệm thẩm mĩ và quan niệm đạo đức của nhân dân lao động. Họ ưa chuộng những gì giản dị, nhỏ bé; ca ngợi thủy chung, tình nghĩa; thích cái đẹp bên trong hơn cái phô trương bên ngoài.

*Mô típ hoa sen

Trong các loài hoa biểu tượng cho vẻ đẹp cao quý, ta không thể không nhắc tới hoa sen. Hoa sen biểu trưng cho sức sống bền bỉ: “Hoa sen mọc bãi cát lầm/ Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen”.

Sự đủ đầy, phúc lộc trong cuộc sống của người nông dân cũng được thể hiện qua hình ảnh hoa sen. Không những thế, hoa sen mang một mầm sống âm ỉ mà mạnh mẽ. Tuy dầm mưa dãi nắng mà hương sắc chẳng nhạt phai: “Hoa sen hoa khéo giữ màu/ Nắng hồng không nhạt mưa dầm không phai”.

Không giống như hương thơm có tiếng của hoa nhài, hương sen là mùi hương đằm thắm. Nó là biểu hiện của sự thuần khiết, thánh thiện, trắng trong:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Hoa sen đã trở thành Quốc hoa Việt Nam – đại diện cho một vẻ đẹp thánh thiện mà giản dị, chất phác, hiền lành của người dân đất Việt. Và trong các câu ca dao, hoa sen cũng đã giữ vẻ đẹp thuần khiết của nó để biểu tượng cho tâm hồn người Việt.

*Mô típ trúc – mai

Theo quan niệm của nhà nho, tùng, trúc, mai là những thứ cây tượng trưng cho khí tiết, đức tính cao thượng, phẩm chất trong sạch của người quân tử. Còn tác giả dân gian không mấy khi tả thực cây trúc, cây mai. Họ nhắc đến mai, trúc nhằm thể hiện con người. Có khi trúc được nhắc đến một mình tượng trưng cho người con gái xinh xắn: “Trúc xinh trúc đứng một mình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh”.
Có khi trúc, mai được dùng xoắn xít với nhau thể hiện tình cảm đôi lứa thắm thiết:
“Trúc với mai, mai về trúc nhớ/ Trúc trở về mai nhớ trúc không?

Hình ảnh trúc mai trong ca dao được dùng để diễn đạt nhiều cung bậc tình cảm, nhiều cảnh ngộ tình duyên. Có khi đó là lời nhắn nhủ hi vọng:“Đợi cho trúc ở với mai/ Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng”. Cũng có khi đó là nỗi giận hờn, oán trách: “Những là lên miếu xuống ghe/ Để tôi đánh trúc đánh tre về trồng/ Tưởng rằng nên vợ nên chồng/ Nào ngờ nói thế mà không có gì”.

Và đó còn là nỗi khát vọng: “Chiều nay có kẻ thất tình/ Tựa mai mai ngã, tựa đình đình xiêu”.

Như vậy, trong ca dao, biểu tượng trúc- mai thường được dùng với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ, cho tình duyên.

4. Thể thơ trong ca dao

* Thể lục bát

Trong những tác phẩm thơ ca dân gian, ca dao được sáng tác ở nhiều hình thức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp, tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát. Điều này thật dễ hiểu vì thơ lục bát là “những lời nói vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân, dễ nhớ, dễ thuộc.

Thể lục bát trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ về cuộc đời, từ khoảnh khắc hồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tình cảm trữ tình phong phú. Các tác phẩm ca dao được làm theo thể lục bát được vận dụng linh hoạt và nhiều vẻ nhất trong dân ca, trong những giai điệu ngâm ngợi, ca xướng uyển chuyển. Sở dĩ như vậy là do kết cấu đặc trưng riêng biệt về âm luật của thể loại thơ này. Có thể thấy lục bát mang đầy đủ dáng dấp của một thể thơ cách luật với những yếu tố đặc thù về tổ chức âm thanh: gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu trong hình thức tối thiểu là một cặp lục bát gồm 2 câu với số tiếng cố định: 6 tiếng (câu lục) và 8 tiếng (câu bát).

Phương thức gieo vần 6-8 tạo nên vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ, là phương tiện tổ chức văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng nhiều mầu sắc vang vọng trong thơ. Nhịp điệu thơ lục bát về cơ bản là nhịp chẵn 2/2/2, 2/4/2, hoặc 4/4 diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

“Người thương/ ơi hỡi/ người thương

Đi đâu/ mà để/ buồn hương/ lạnh lùng”.

nhưng khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5…

“Chồng gì anh/ vợ gì tôi

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”

          Một thể thơ khá phổ biến nữa trong ca dao là thể lục bát biến thể. Có thể hiểu lục bát biến thể là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không trùng khít trên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết, về vị trí hiệp vần…

Có câu lục biến thể tăng tiến như:

“Con gà rừng tốt mã khoe lông

          Chẳng cho đi chọi, nhốt lồng làm chi!”

Phần lớn câu lục biến thể tăng tiến đều bắt nguồn từ dụng ý nghệ thuật của tác giả dân gian mà cách nói phổ biến là giảng giải, phân trần. Một số câu lục biến thể có sự chêm xen các từ khẩu ngữ đệm vào, đây là một đặc điểm của thơ hát nói.

Có câu bát biến thể tăng tiến để diễn đạt cảm xúc, tình cảm con người như:

“Một chờ, hai đợi, ba trông

Bốn thương, năm nhớ, bảy tám chín mong, mười tìm”

Không hẳn lục bát chỉ có tăng số tiếng, câu nói có thể ngắn gọn, xúc tích hơn cũng có thể nhờ vào câu lục biến thể giảm số tiếng. Loại biến thể này thì lời ca như những câu châm ngôn, có lời như một tục ngữ. Lời thơ súc tích, hàm nghĩa mang tính triết lý nhân sinh, những nhận xét sắc sảo về những vấn đề cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu.

“Mật ngọt chết ruồi

Ai mà đến đấy thời người say sưa”

Mang những đặc trưng chung của kiểu câu lục và câu bát biến thể và có những đặc điểm như câu suy luận nhiều vế, câu kết hợp nhiều kiểu câu, khuôn lục bát không rõ ràng, câu nặng tính khẩu ngữ, thường là câu dồn chứa nhiều thông tin, ranh giới câu lục thường xâm lấn câu bát hoặc ranh giới chức năng của hai câu không rõ ràng.

“Hạt lúa vàng, hạt thóc cũng vàng

          Anh yêu em, bác mẹ, họ hàng cũng yêu”

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấu về cơ bản thể thơ lục bát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về số tiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mỗi câu trong thể. Tuy vậy cũng có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xê dịch phối thanh, hiệp vần… đó là dạng lục bát biến thể. Sự biến đổi đó là do nhu cầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạng phá vỡ khuôn hình 6/8 thông thường. Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát về cơ bản vẫn giữ nguyên. Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn là thể lục bát.

          *Thể thơ song thất lục bát

Dạng song thất lục bát thường dễ gặp nhất gồm hai dòng đầu là 7, hai dòng sau là 6/8:

“Thang mô cao bằng thang danh vọng

Nghĩa mô trọng bằng nghĩa chồng con

Trăm năm nước chảy đá mòn

Xa nhau nghìn dặm dạ còn nhớ thương”.

Cũng có khi là dạng song thất lục bát dán thất: hai câu 6/8 rồi đến hai câu 7:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay”.

Cuối cùng là hai câu lục bát đầu cuối xen giữa hai câu thất:

“Đêm qua nguyệt lặn về tây

Sự tình kẻ đấy người đây còn dài

Trúc với Mai, Mai về Trúc nhớ

Trúc trở về, Mai nhớ Trúc không

Bây giờ kẻ Bắc người Đông

Kể sao cho xiết tấm lòng riêng tư”.

Thể thơ này thường lặp đi lặp lại, cuộn trào như ngọn sóng phù hợp cho việc diễn tả tâm trạng buồn đau của nhân vật trữ tình. Thể song thất và lục bát kết hợp nhau là do tình cảm vốn đa chiều, phức tạp được thể hiện có hiệu quả rõ rệt với cách nói đa giọng, nhiều cung bậc và gam màu.

          *Thể vãn (thể thơ 5 chữ, 4 chữ, 3 chữ):

          Thể thơ này xuất hiện ít phổ biến hơn trong ca dao nhưng khi sử dụng nó cũng mang lại những hiệu quả thẩm mĩ cao.

“Công đôi ta thề thốt

Kể đã mấy niên rồi

Lòng đã quyết lúa đôi

Nhất ngôn nói hẳn lời

Đừng bốn chốn ba nơi

Đừng trăng gió chào mời

Trăng nhiều trăng rạng rỡ

Trăng nhiều đèn rạng rỡ”.

Có khi thể ngũ ngôn kết hợp với thể lục bát làm cho tiết tấu và vần điệu thơ phong phú, có khả năng diễn đạt những cung bậc khác nhau của tình cảm.

“Nào khi mô em nói với anh

Sông cạn mà tình không cạn

Vàng mòn mà nghĩa không mòn

Nay chừ nước lại xa non

Đêm nằm tơ tưởng héo hon ruột tằm”

Thể lục bát kết hợp với thể ngũ ngôn tạo cho bài ca có thế vững chắc, là điểm nhấn kết vấn đề, ngăn lại dòng kể lan man của thể ngũ ngôn.

Tháng giêng tháng hai, tháng ba, tháng bốn

Tháng khốn, tháng nạn

Đi vay, đi dạm

Được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Giêng

Mua con gà mái về nuôi

Nó đẻ ra mười trứng

Một trứng: ung

Hai trứng: ung

Chớ than phận khó ai ơi

Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”.

Ngoài ra còn có thể hỗn hợp, thể này kết hợp các đặc trưng của các thể loại khác nhằm diễn đạt nhiều cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Trong ca dao, thể này sử dụng không nhiều, chiếm 1% nhưng khá đa dạng:

“Ai sầu ai thảm

Ai thương ai cảm

Ai nhớ ai trông

Thuyền ai thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy, chạnh lòng nước non”

Nếu thể 6-8 thường được vận dụng trong những bài ca có nội dung trữ tình hoặc giao duyên, thể song thất lục bát (hai câu 7 chữ và một câu 6-8) thường dùng trong những bài hát có âm điệu, trong những loại hát nghi lễ phong tục, những bài hát sinh hoạt, những bài hát giao duyên.

Nói tóm lại, đặc trưng thể thơ trong ca dao suy cho cùng là diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Tùy theo cảm xúc, cung bậc mà chọn lựa một thể thơ phù hợp. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vẫn là thể lục bát. Việc sáng tạo thể thơ độc đáo này thể hiện đời sống tinh thần phong phú của người bình dân, rất nhiều nhà thơ thành công nhờ thể thơ này. Ngày nay, thể lục bát trở thành niềm tự hào của dân tộc

IV. Luyện tập

Đề 1:

          Bàn về văn học dân gian Việt Nam, Hồ Chủ tịch có nhận xét: “Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quí”.

          Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiều biết của mình về ca dao Việt Nam, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Dàn ý:

1. Giải thích ý kiến:

- “Những sáng tác ấy”: chỉ VHDG

- “Hòn ngọc quí”: Vật trang sức có giá trịvẻ đẹp rực rỡ

=> Cách nói hình ảnh để tôn vinh, khẳng định giá trị, vẻ đẹp của VHDG VN.

2. Bình luận

- Hồ Chí Minh đã khẳng định giá trị, vẻ đẹp của văn học dân gian VN nói chung và thể loại ca dao nói riêng.

- VHDG là những sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ xa xưa và còn lại mãi mãi về sau

- VHDG kết tinh tài năng, trí tuệ, vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm…của nhân dân lao động qua hàng bao thế kỉ, là “túi đựng trí khôn nhân dân”, là “cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân”…, do đó, nó có giá trị nhiều mặt.

- Những giá trị ấy có thể thấy ở hai mặt cơ bản: nội dung và hình thức nghệ thuật.

- Đặc biệt, truyện cổ tích, ca dao là những thể loại tiêu biểu, góp phần làm nên vẻ đẹp, giá trị nhiều mặt của VHDG VN.

3. Chứng minh

-  Ca dao là những “hòn ngọc quí” về nội dung:

+ Ca dao có giá trị nhận thức, là “cuốn sách giáo khoa về đời sống”:

`Hiểu được đời sống tâm hồn, tình cảm của người lao động, đặc biệt là khát vọng hôn nhân, tình yêu… (ca dao yêu thương tình nghĩa, ca dao than thân …)

`Khả năng nhận thức mà ca dao đem lại không ở bề rộng mà ở chiều sâu, giúp người đọc không chỉ biết mà còn hiểu sâu sắc đời sống tâm hồn, tình cảm cao đẹp, tinh tế của người bình dân xưa.

+ Ca dao mang giá trị giáo dục to lớn và sâu sắc:

Từ chỗ giúp ta hiểu được đời sống, quan niệm sống, tư tưởng của người xưa, ca dao hướng con người đến những điều tốt đẹp, sống hướng thiện, trọng đạo nghĩa, ân tình…

Những bài học đạo đức mà ca dao đem lại cho người đọc không chỉ đẹp về ý nghĩa mà quan trọng hơn, nó tác động vào người đọc từ từ, thấm nhuần theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, làm đẹp tâm hồn người đọc tự lúc nào chẳng rõ.

+ Ca dao còn có giá trị thẩm mĩ cao đẹp, giúp con người biết rung động và hưởng thụ cái đẹp của những hình tượng nghệ thuật, những chi tiết nghệ thuật giàu giá trị thẩm mĩ…, để họ được tắm mình trong vẻ đẹp của Chân Thiện Mĩ…

- Ca dao còn là những “hòn ngọc quí” về nghệ thuật:

+ Cái tôi trữ tình dân gian

+ Chi tiết nghệ thuật đặc sắc (VD: cầu “dải yếm”, miếng trầu têm cánh phượng…)

+ Ngôn ngữ, hình ảnh sáng tạo…

+ Lối diễn đạt giàu giá trị thẩm mĩ, mang màu sắc dân tộc độc đáo

4. Đánh giá, mở rộng:

 - Với những giá trị to lớn như trênca dao nói riêng, VHDG nói chung, xứng đáng là “hòn ngọc quí” trong kho tàng VHVN.

- VHDG góp phần làm nền móng vững chắc cho VHV phát triển, có công lao lớn với các tác giả VHV: “Các nhà văn học được văn trong truyện cổ tích và học được thơ từ ca dao”…

- Bài học với người sáng tác: biết học tập cái hay cái đẹp từ kho tàng VHDG, từ “câu hát của người trồng dâu, trồng đay”.

- Bài học với người thưởng thức: Biết ơn, trân trọng, học tập di sản văn học quá khứ…

Đề 2:

          Vẻ đẹp ngôn ngữ qua bài ca dao Khăn thương nhớ ai và đoạn Trao      duyên (Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du).

1. Khái quát chung

- Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của văn học nói chung và thơ ca nói riêng

- Vẻ đẹp ngôn ngữ văn học được thể hiện ở việc lựa chọn ngôn từ có tính hình tượng, tính biểu cảm, tính hàm súc,… của người nghệ sĩ.

- Để biểu đạt một cách nhìn, cách cảm về thế giới, về cuộc đời, về con người, người nghệ sĩ thường tìm đến hình thức nghệ thuật độc đáo, mới mẻ. Có như thế, tác phẩm của mình mới tìm được những tâm hồn đồng điệu qua các thế hệ tiếp nhận.

- Thực tế sáng tác đã chứng minh những tác phẩm văn học thật sự có giá trị thì hình thức nghệ thuật bao giờ cũng có sức hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc, có khi ngay từ lần tiếp nhận đầu tiên. Bài ca dao Khăn thương nhớ ai và đoạn Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du) không nằm ngoài quy luật đó.

2. Phân tích và chứng minh

 a. Giống nhau:

- Đều sử dụng thể thơ lục bát, nhịp điệu mềm mại, uyển chuyển, phù hợp với việc biểu đạt tâm trạng nhân vật trữ tình

- Đều gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân, thế giới nội cảm của nhân vật chân thực, sinh động

- Mang đặc điểm ngôn ngữ thơ: trau chuốt, mượt mà; giàu sức gợi và truyền cả.

b. Khác nhau:

 

 

     * Bài ca dao: Khăn thương nhớ ai : Được thử thách qua không gian, thời gian, được gọt giũa bởi nhiều nghệ sĩ dân gian, ngôn ngữ ca dao nói chung và bài ca dao “Khăn thương nhớ ai” nói riêng đã trở thành viên ngọc quý của kho tàng văn học dân gian.

- Trong bài ca dao, cô gái thể hiện nỗi nhớ da diết đến tan chảy cõi lòng không bộc lộ bằng cách nói dễ dãi mà vô cùng kín đáo, ý nhị, sâu sắc qua hệ thống biện pháp tu từ:

   + Thủ pháp nhân hóa: Khăn thương nhớ ai

              Đèn thương nhớ ai

   + Phép hoán dụ: Mắt thương nhớ ai

   + Năm lần hỏi, năm lần đại từ “ai”  vang lên trong điệp khúc “thương nhớ ai”. Bản thân từ “ai” mang tính phiếm chỉ, gợi nỗi nhớ sâu thẳm, không có giới hạn.

   + Phép điệp câu hỏi:”Khăn/Đèn/Mắt thương nhớ ai” dồn dập, diễn tả nỗ lòng bồn chồn của cô gái. Những câu hỏi không có câu trả lời như cô gái nén chặt tình thương nhớ, cuối cùng bật ra bằng niềm lo âu cho hạnh phúc của mình.

- Sự chuyển biến tâm trạng từ thương nhớ không nguôi đến lo phiền ứng với sự chuyển biến trong cách sử dụng thể loại thơ: Từ vãn bốn đến lục bát, âm điệu dồn dập đến mênh mang...

 Có thể nói, Khăn thương nhớ ai đã vượt chặng đường thời gian mấy ngàn năm để đến với chúng ta hôm nay bởi cách diễn đạt ngôn ngữ nhuần nhị mà sâu sắc, bộc lộ tình yêu của chủ thể trữ tình đậm đà nét đẹp nữ tính. Bài ca dao là sản phẩm trí tuệ tâm hồn của người bình dân, không thấy bóng dáng của ngôn ngữ bác học như sử dụng từ Hán Việt, điển tích, điển cố,…Đây cũng là đặc điểm ngôn từ của ca dao nói chung.

     * Đoạn Trao duyên : Tác giả tái hiện bi kịch tình yêu tan vỡ của người con gái tài sắc Thúy Kiều.

- Ngôn ngữ đối thoại chuyển dần thành ngôn ngữ độc thoại: Nếu như màn Trao duyên trong “Kim Vân Kiều truyện” (Thanh Tâm Tài Nhân) là cuộc đối thoại của hai chị em Thúy Vân- Thúy Kiều thì màn Trao Duyên trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du), Thúy Vân không nói một lời nào. Chỉ có Kiều bộc bạch nỗi lòng theo một trật tự hợp lí:

   + Ban đầu, Kiều tâm sự và thuyết phục Vân thay mình trả nghĩa chàng Kim: Kiều sử dụng ngôn ngữ đối thoại

   + Sau đó, Kiều trao kỉ vật cho Vân: Kiều sử dụng ngôn ngữ nửa đối thoại, Kiều nói với Vân mà cũng là nói với mình.

   + Kết thúc, Kiều đối diện với tình yêu tan vỡ: Ngôn ngữ của Kiều chuyển sang độc thoại.

 Ý nghĩa: Nỗi đau khổ vì tình yêu tan vỡ mỗi lúc đẩy lên cao trào. Khi nỗi đau ấy không thể chịu đựng được nữa thì Kiều đã ngất đi. Đây chính là một sáng tạo nghệ thuật truyện tuyệt vời của Nguyễn Du so với truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở màn bi kịch này.

- Sự kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân:

   + Ngôn ngữ bác học: Nguyễn Du sử dụng từ Hán Việt, điển tích điển cố nhuần nhuyễn, tự nhiên như: tương tư, mệnh bạc, bồ liễu, thác,…

   + Ngôn ngữ bình dân: Ngôn từ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân lao động; cách vận dụng ca dao tục ngữ, thành ngữ,… Nguyễn Du xuất thân từ một gia dình dòng dõi quý tộc nhưng từ thầntrong đoạn thơ này nói riêng và Truyện Kiều nói chung lại là từ bình dân như: cậy, chịu, lạy, của chung, ngày xưa,…; có những câu thơ chủ yếu là hư từ như Mai sau dù có bao giờ,…

- Sự kết hợp hài hòa giữa ngôn từ bác học và ngôn từ bình dân thể hiện màn trao duyên vừa thiêng liêng trang trọng, vừa thể hiện thế giới tâm trạng của Kiều chân thực sống động như: Giữa đường đứt gánh tương tưHồn còn mang nặng lời thề,…

 Vẻ đẹp ngôn ngữ trong đoạn Trao duyên đã chứng tỏ Nguyễn Du đưa thể loại lục bát thuần dân tộc đạt đến độ chuẩn mực cổ điển, đánh dấu sự phát triển tới đỉnh cao của thi ca nước nhà giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XIX.

Đánh giá chung

- Vẻ đẹp ngôn ngữ dù là ca dao dân ca như Khăn thương nhớ ai hay thơ bác học như đoạn Trao duyên (trích Truyện Kiều- Nguyễn Du) đều là những viên ngọc quý báu của kho tàng văn học nước nhà, rất cần chúng ta nâng niu, trân trọng, gìn giữ.

- Vẻ đẹp ngôn ngữ của bài ca dao hay đoạn thơ trên đã góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho người thưởng thức văn học nghệ thuật bao thế hệ,…

Đề 3:

          “Sinh ra trong cuộc đời trăm đắng, ngàn cay nhưng ca dao cổ đã thể hiện tác giả của nó: người bình dân là nghệ sĩ thứ nhất, nghệ sĩ của muôn đời”

          Bằng sự hiểu biết về ca dao, anh/ chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Đề 3:

          “Sinh ra trong cuộc đời trăm đắng nghìn cay nhưng ca dao đã thể hiện tác giả của nó- người bình dân là người nghệ sĩ thứ nhất, nghệ sĩ của muôn đời”.

Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên. Chứng minh qua một số bài ca dao đã học.

1. Giải thích

- Ca dao: thể loại trữ tình dân gian, có sự kết hợp 2 yếu tố thơ và nhạc

- Môi trường sản sinh, hình thành ca dao: “cuộc đời trăm đắng nghìn cay”- hiện thực cuộc sống muôn vàn khó khăn của người lao động xưa.

- Chủ thể sáng tạo: người lao động, những người bình dân cũng là những người nghệ sĩ

+ Người nghệ sĩ: có tài năng nghệ thuật, có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế

+ Người nghệ sĩ thứ nhất: ca dao ra đời rất sớm, chưa có nghệ sĩ chuyên nghiệp

+ Người nghệ sĩ muôn đời: có tài năng, có tâm huyết đã sáng tạo nên những tác phẩm có sức sống lâu bền, sức sống muôn đời vượt qua những thử thách của thời gian, không gian

- Nhận định đã đề cập đến đặc điểm của ca dao và sức sống mãnh liệt của ca dao

2. Phân tích, bình luận

- Nhận định trên hoàn toàn chính xác

- Ca dao giống như các thể loại VHDG khác, có từ ngàn xưa, được nảy sinh trong một môi trường sống, lao động đầy khó khăn và bất trắc của người xưa (điều kiện tự nhiên, mô trường XH): thể hiện qua các bài ca dao phản ánh hiện thực cuộc sống

- Người lao động là chủ thể sáng tạo của ca dao là những người bình dân giống như chủ thể sáng tạo của các thể loại VHDG khác. Đồng thời những người dân lao động xưa lại là những người nghệ sĩ.

- Ca dao là sản phẩm tinh thần, kết tinh được cả trí tuệ, tình cảm, ước mơ và khát vọng của nhân dân, của những người lao động.

- Ca dao có sự kết hợp của cả 2 yếu tố: thơ và nhạc. Đây là bộ môn nghệ thuật tổng hợp, dễ đi vào lòng người. Ca dao có nhiều ưu thế hơn so với các thể loại khác.

→Ca dao có sức sống lâu bền nhờ nội dung và hình thức biểu đạt đặc trưng của nó.

3. Chứng minh qua một số bài ca dao đã học

- Ca dao yêu thương tình nghĩa

- Ca dao than thân

Chú ý khi phân tích các bài ca dao phải bám sát vào các yếu tố:

+ Cái tôi trữ tình trong bài ca dao

+ Tư tưởng, chủ đề của bài ca dao

+ Nghệ thuật thể hiện bài ca dao

Đề 4:

 Bàn về ca dao, Nguyễn Đình Thi viết:“ Ca dao là tấm gương của tâm hồn dân tộc”.

Anh (chị) hiểu lời nhận định trên như thế nào ? Bằng những hiểu biết về ca dao Việt Nam, hãy làm sáng tỏ.

1.Giải thích nhận định:

- Ca dao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình; tác giả là quần chúng nhân dân lao động. Do phát sinh từ những sinh hoạt của người bình dân (lao động, cộng đồng, gia đình) nên diễn tả đời sống nội tâm của nhân dân, dân tộc.

-Tấm gương là cách nói bằng hình ảnh để cho  người đọc thấy sự chân thực, cụ thể, sinh động, toàn diện của ca dao

- Ý nghĩa nhận định: Ca dao phản ánh một cách chân thật đời sống tâm hồn dân tộc. Nói cách khác đến với ca dao người đọc bắt gặp tâm hồn dân tộc , đời sống tâm tư tình cảm của cả  một dân tộc. Từ đó người đọc được nuôi dưỡng và lớn lên rất nhiều trong tư tưởng tình cảm.

2. Chứng minh:

a. Ca dao có khả năng biểu hiện vô cùng phong phú, bao trùm mọi mặt đời sống tình cảm của con người qua đó thấy được tâm hồn dân tộc.

-Tình yêu quê hương đất nước.

+ Quê hương nơi ta sinh ra và lớn lên, ở đó có hình ảnh dòng sông, bến nước luỹ tre, cánh đồng…ăn sâu vào tâm hồn mỗi con người. Người Việt Nam đi đâu cũng nhớ về quê hương : Anh đi anh nhớ quê nhà…

+ Hình ảnh quê hương đất nước hiện lên trong ca dao vừa gần gũi thân thương vừa đẹp đến nao lòng: Gió đưa cành trúc la  đà…

Một con đường xứ Nghệ với cảnh non xanh nước biếc đẹp như tranh, cảnh Đồng Đăng, nhà Bè….

+ Lòng tự hào về vẻ đẹp quê hương, truyền thống dân tộc( Đánh giặc:

Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi

Muốn coi lên núi mà coi

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Túi gấm cho lẫn túi hồng

Têm trầu cánh kiếm cho chồng đi quân”

Đoàn kết yêu thương gắn bó

- Tâm hồn Việt Nam là tâm hồn lạc quan yêu cuộc sống. Cuộc sống lao động vất vả nhưng với họ luôn nhộn nhịp vui tươi:

 Rủ nhau đi cấy đi cày..

Rủ nhau xuống bể mò cua…

Hỡi cô tát nước bên đàng…

Đó là những cảnh đầm ấm hạnh phúc, cảnh thơ mộng . Tiếng hát lạc quan, ước mơ hi vọng đem đến nụ cười trên môi người lao động bớt đi nhọc nhằn cay đắng.

( Có thể bổ sung ca dao hài hước trong sách giáo khoa)

- Tâm hồn người Việt Nam chan chứa lòng yêu thương nặng ân nghĩa

+ Tình yêu giữa người với người là âm điệu sâu lắng mà tha thiết được đi sâu khai thác biểu hiện.

 Tình yêu lứa đôi sâu sắc.Tình cảm gia đình thiêng liêng , Tình nghĩa đồng bào:

+ Tâm hồn người Việt Nam sống có thuỷ, có chung, có tình, có nghĩa. Vì vậy những bài ca dao về ân nghĩa trở thành phổ biến

( Chùm ca dao yêu thương tình nghĩa)

“ Đem vàng đem nghĩa mà cân

Vàng thì nặng bảy , ái ân nặng mười”

+Khao khát được giãi bày tình cảm

( phân tích những câu ca dao than thân)

b. Để biểu hiện tâm hồn phong phú của dân tộc, hình thức ca dao thật nhuần nhị trong sáng: cấu tứ, hình ảnh, giai điệu, hình thức đối đáp, ngôn ngữ.

Hình thức này đã làm cho đời sống dân tộc trong ca dao được thăng hoa

3. Bình luận, đánh giá

- Ca dao thực sự là hòn ngọc quý trong kho tàng văn học dân tộc, với ngôn ngữ trong sáng, sức biểu cảm tinh tế. Ca dao đã phản ánh sâu sắc tâm hồn tính cách con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Tâm hồn dân tộc đã làm nên sức sống của ca dao.

- Ngày nay ca dao vẫn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tình cảm của nhân dân, là bài học lớn cho các nhà văn nhà thơ.

- Thế hệ trẻ cần biết quý trọng gìn giữ ca dao.

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

          Trong các thể loại trữ tình dân gian có thể nhận thấy ca dao là thể loại tiêu biểu với số lượng lớn các bài ca dao với sự phản ánh phong phú đời sống tâm hồn người bình dân trong xã hội xưa. Bên cạnh đó ca dao cũng có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác văn học viết từ văn học trung đại đến văn học hiện đại, từ nội dung đến hình thức nghệ thuật.  Tìm hiểu ca dao cũng là một trong những việc làm quan trọng để hiểu sâu sắc hơn đời sống tinh thần của người bình dân xưa. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy bản thân  tôi đã tìm tòi, học hỏi và nghiên cứu tài liệu để từ đó đúc kết thành kinh nghiệm về phương pháp tiếp cận và cảm thụ thể loại ca dao Việt Nam. Dù sao đi nữa, đây cũng chỉ là một kinh nghiệm của một cá nhân nên không thể nào tránh  khỏi những sai sót nhất định. Kính mong các thầy cô giáo và đồng nghiệp góp ý kiến chân thành để chuyên đề này hoàn thiện hơn!

 

 

 

Họ tên no image
no image
Tiêu đề no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin tức mới nhất

Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 13
  • Hôm nay: 111
  • Trong tuần: 4,217
  • Tất cả: 80,188