CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1954-1975 – CÁCH NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA

                                                                
 
1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
          Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam kết thúc thắng lợi sau 9 năm kháng chiến trường kì (1945-1954). Thực dân Pháp buộc phải kí Hiệp định Giơnevơ (21-7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, rút hết quân về nước, chấm dứt chiến tranh xâm lược. Theo nội dung của Hiệp định, Việt Nam sẽ tiến tới thống nhất bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do được tiến hành vào tháng 7-1956. Tuy nhiên, ngay sau đó, đế quốc Mĩ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, thành căn cứ quân sự của Mĩ ở Đông Nam Á; dùng miền Nam làm bàn đạp mở rộng tiến công miền Bắc, âm mưu chiếm cả nước ta. Vì vậy, Việt Nam không thể tiến tới thống nhất đất nước bằng một cuộc tổng tuyển cử, trong vòng 2 năm sau mà phải tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ trong suốt 21 năm, tức là hơn 1/5 thế kỉ, từ năm 1954 đến năm 1975.
          Một sự thật tưởng như hiển nhiên và sẽ được mọi người công nhận như vậy nhưng vẫn có rất nhiều cách nhìn, hướng nhìn khác nhau từ nhiều phía: phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (tiền thân là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam) cùng với nhân dân Việt Nam; phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn); phía nhân dân Mĩ, phía dư luận quốc tế... Cách nhìn của các bên trong thời điểm cuộc chiến tranh đang diễn ra và sau khi cuộc chiến tranh đã qua đi cũng khác nhau.
Vì vậy, việc tìm hiểu những cách nhìn khác nhau sẽ cho chúng ta có thêm cái nhìn đa chiều hơn, sâu sắc hơn về cuộc chiến. Đặc biệt, với người giáo viên giảng dạy môn Lịch sử điều này càng trở nên cần thiết để giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn những nội dung liên quan đến Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 – một giai đoạn hết sức quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, ý thức cho thế hệ trẻ và quan trọng trong quá trình ôn luyện giúp các em đạt kết quả cao ở các kì thi học sinh giỏi các cấp và thi THPT Quốc gia.
          Vì những lí do trên, tôi chọn “Cuộc Chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975 - cách nhìn từ nhiều phía” làm đề tài bước đầu tìm hiểu để trao đổi cùng các đồng nghiệp tại trại hè Hùng Vương được tổ chức tại Lào Cai (2017).
1.2. Mục đích của đề tài
          Mục đích của đề tài là tìm kiếm, sưu tầm tư liệu về cách nhìn cuộc chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975 từ các phía khác nhau, sau đó tổng hợp, khái quát, hệ thống lại những tri thức, cách nhìn quan trọng về cuộc chiến này để có thêm những tư liệu quý báu phục vụ cho quá trình giảng dạy và trao đổi, chia sẻ với các đồng nghiệp.
1.3. Phương pháp nghiên cứu
          Để thực hiện chuyên đề, tôi đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân tích, so sánh ...
1.4. Cấu trúc của đề tài
          Chuyên đề được cấu trúc thành ba phần
PHẦN MỞ ĐẦU
          1. Lí do chọn đề tài
          2. Mục đích của đề tài
          3. Phương pháp nghiên cứu
          4. Cấu trúc chuyên đề
PHẦN NỘI DUNG
           2.1. Cách nhìn của các bên trong khi cuộc chiến đang diễn ra (1954-1975)       
2.1.1. Về phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn)
2.1.2. Về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam
2.1.3. Về phía người dân và học giả Hoa Kì
2.1.4. Về phía các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc…) và nhân loại tiến bộ
2.1.5. Về phía Chính phủ một số nước phương Tây
2.2. Cách nhìn của Mĩ và Việt Nam sau cuộc chiến tranh (từ sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến nay)
2.2.1. Về phía Chính phủ Mĩ
2.2.2. Về phía những người lính Mĩ thời hậu chiến
2.2.3. Về phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam
2.3. Vận dụng chuyên đề vào quá trình giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam 1954-1975
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
2. NỘI DUNG
2.1. Cách nhìn của các bên trong khi cuộc chiến đang diễn ra (1954-1975)
Mục tiêu của các bên trong Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp và đa diện tùy theo lập trường của các bên.
2.1.1. Về phía Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn)
Đối với các nhà lãnh đạo của Mĩ và Việt Nam Cộng hòa thì đây là cuộc chiến tranh giữa hai hệ tư tưởng: chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa chống cộng; và cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) được Mĩ tiến hành để góp phần thực hiện chiến lược toàn cầu, nhằm làm bá chủ thế giới.
 Chính phủ Mĩ muốn ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á nên đã thể hiện quyết tâm xâm lược rất cao.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954), Mĩ đã hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam Việt Nam, dựng lên chính quyền tay sai (đầu tiên là chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm), thông qua viện trợ về kinh tế, quân sự và với vai trò cố vấn cho chính quyền tay sai tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở miền Nam Việt Nam. Mĩ đã đầu tư một lực lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh, trang bị kĩ thuật cho chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam tiến hành cuộc chiến tranh chống lại Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc. Những hành động của Mĩ khiến nhiều người không hiểu rõ bản chất của cuộc chiến sẽ lầm tưởng rằng đây là một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam và Mĩ chẳng qua chỉ vào để giúp miền Nam chống lại chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc để tiến hành thống nhất đất nước mà thôi.
Quyết tâm xâm lược Việt Nam bằng mọi giá của Chính phủ Mĩ không chỉ dừng lại ở việc họ đầu tư cho chính quyền Sài Gòn một khối lượng lớn tiền bạc, vũ khí và phương tiện chiến tranh mà còn thể hiện rõ nét ở những thời điểm quân đội Sài Gòn bị suy yếu, đứng trước nguy cơ tan rã, Mĩ đã phải trực tiếp đưa quân đội của mình và quân một số nước đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, hòng “hà hơi tiếp sức” cho quân đội Sài Gòn.
Cụ thể, trong giai đoạn 1965-1968, sau thất bại của quân đội Sài Gòn trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (giữa năm 1965), Mĩ đã trực tiếp đưa quân đội của mình và quân các nước Đồng minh (gồm 5 nước: Philíppin, Hàn Quốc, Thái Lan, Ốtxtrâylia, Niudilân) vào tham chiến tại Việt Nam trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.
Tuy nhiên, với thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 của nhân dân ta ở miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh Cục bộ” của Mĩ, buộc Mĩ phải tuyên bố “phi Mĩ hóa” chiến tranh xâm lược, thừa nhận sự thất bại của “Chiến tranh Cục bộ” và chuyển sang thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975), với lực lượng trực tiếp chiến đấu trên chiến trường là quân đội Sài Gòn.
 Sau cuộc Tiến công chiến lược năm 1972 của quân dân miền Nam, Mĩ tuyên bố “Mĩ hóa” trở lại chiến tranh Việt Nam: bắt đầu từ ngày 6-4-1972, chính thức từ ngày 16-4-1972 đến ngày 15-1-1973, Mĩ đã huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân để gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai. Đặc biệt, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 (từ 18 đến 29-12-1972), Mĩ đã tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máy bay B52 xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số mục tiêu ở miền Bắc, với ý đồ muốn dùng sức mạnh của vũ khí để giành thắng lợi quân sự quyết định, tạo điều kiện thuận lợi trên bàn đàm phán, buộc ta phải kí Hiệp định Pa-ri theo chiều hướng có lợi cho Mĩ.
Tuy nhiên, âm mưu của Mĩ đã không thể thực hiện được bởi quân dân ta ở miền Bắc đã đánh trả không quân Mĩ những đòn đích đáng, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” vang dội trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) theo chiều hướng có lợi cho ta.
Trên cơ sở đó, ngày 29-3-1973, Mĩ đã phải rút quân về nước, chấm dứt chiến tranh xâm lược. Nhưng Mĩ vẫn để lại 2 vạn cố vấn quân sự đội lốt dân sự, tiếp tục viện trợ cho chính quyền và quân đội Sài Gòn tiến hành chiến tranh. Thực chất đây là sự tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Chỉ đến khi quân dân ta ở hai miền Nam Bắc đoàn kết chiến đấu, giành thắng lợi vang dội trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân năm 1975, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, Mĩ mới chịu chấp nhận thất bại của họ.
Như vậy, Mĩ đã dốc tối đa khả năng có thể về cả người và vật chất cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam với một đội quân viễn chinh gồm hơn 60 vạn tên (gồm quân Mĩ và quân 5 nước đồng minh của Mĩ) làm nòng cốt cho hơn 1 triệu quân đội Sài Gòn. Riêng về quân Mĩ, chúng đã huy động lúc cao nhất gần 70% lực lượng bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, hơn 30% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược và đã tiêu tốn hơn 350 tỉ USD. Mĩ ngoan cố theo đuổi chiến tranh Việt Nam trong suốt hơn 1/5 thế kỉ (21 năm), 5 đời Tổng thống Mĩ phải “đau đầu bạc tóc” vì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (gồm các Tổng thống: Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi, Giôn-xơn, Ních-xơn, Pho); Mĩ áp dụng hầu hết các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới ở miền Nam Việt Nam (trừ chiến tranh tổng lực), từ “chiến tranh đơn phương”, “chiến tranh đặc biệt” đến “Chiến tranh Cục bộ”, rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”, mở rộng ra cả Đông Dương, tiến hành “Đông Dương hóa chiến tranh” để phối hợp với “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mĩ sử dụng cả thủ đoạn về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, ngoại giao.
Mĩ huy động những vũ khí tối tân nhất, hiện đại nhất mà họ có (trừ vũ khí nguyên tử) như xe tăng, máy bay B52, máy bay F111, tàu chiến…Trong lịch sử chiến tranh thế giới, Việt Nam là đất nước bị ném nhiều bom nhất. Số bom Mỹ ném xuống Việt Nam gần gấp 3 tổng số bom sử dụng trong Chiến tranh thế giới thứ thứ hai. Nghiêm trọng hơn, Mỹ đã sử dụng vũ khí hoá học, tiến hành khai quang rừng núi và đồng ruộng ở miền Nam, biến nhiều vùng rừng núi nhiệt đới rậm rạp với nhiều tầng thực vật khác nhau ở miền Nam Việt Nam thành đồi, núi trọc; biến nhiều vùng rừng ngập mặn thành các bãi hoang trống, triệt hạ các căn cứ của Quân Giải phóng và du kích; hủy diệt mùa màng, nhằm cắt nguồn tiếp tế của lực lượng cách mạng; đồng thời cưỡng bức, dồn dân vào các trại tập trung hoặc những vùng do Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà kiểm soát.
 Tất cả những minh chứng trên rõ ràng cho thấy quyết tâm cao độ nhất định phải thắng Việt Nam của Mĩ. Quyết tâm đó xuất phát từ quan điểm của họ về cuộc chiến tranh này là cần thiết, nếu thắng sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Mĩ về cả kinh tế và chính trị.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ủng hộ Mĩ vì họ được Mĩ cho rất nhiều quyền lợi, và một số người cho rằng cuộc chiến này là cuộc chiến để giữ miền Nam Việt Nam và Đông Nam Á không thuộc về những người cộng sản, việc chống cộng là cần thiết nên chấp nhận là tay sai của Mĩ, thực hiện theo các kế hoạch mà Mĩ đã vạch ra.
2.1.2. Về phía Chính phủ và nhân dân Việt Nam
          Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam) và đại đa số nhân dân Việt Nam thì đây là cuộc chiến tranh nhằm thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân - một cuộc chiến chống ngoại xâm, chống lại chủ nghĩa thực dân mới mà Mỹ áp đặt tại miền Nam Việt Nam, với mục đích bảo vệ độc lập dân tộc, giải phóng lãnh thổ, giải phóng nhân dân, hoàn thành thống nhất đất nước, tạo tiền đề để cả nước tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Đó là những mục tiêu vẫn còn dang dở sau 9 năm kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ (1945-1954). Vì vậy, cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, hết sức thiêng liêng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể hợp pháp duy nhất có chủ quyền trên toàn Việt Nam từ năm 1945. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lãnh đạo hai miền kháng chiến, trong khi Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là tổ chức đại diện cho nhân dân miền Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống lại kế hoạch chia cắt đất nước Việt Nam của Hoa Kỳ.
Đại đa số những người dân miền Nam còn lại không quan tâm đến các hệ tư tưởng chính trị, họ chỉ muốn được yên ổn để làm ăn. Theo quan điểm của nhiều sử gia, cuộc chiến này, do đó, mang tính dân tộc rất cao: nguyện vọng độc lập và thống nhất đất nước, sự ủng hộ của đa số nhân dân đã trở thành yếu tố quyết định giúp những người cộng sản thắng lợi dù họ là bên yếu thế hơn nhiều về trang bị quân sự. Hoa Kỳ đã thất bại vì không nhận ra đó là một cuộc "chiến tranh nhân dân" và người Việt Nam gắn bó với cách mạng bởi vì họ coi đó như là một cuộc chiến để bảo vệ gia đình, đất đai và tổ quốc mình.
Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch lớn về nhiều mặt mà ưu thế thuộc về kẻ thù, một số bạn bè quốc tế đã nghi ngại đặt câu hỏi: Việt Nam có bao nhiêu sư đoàn, bao nhiêu máy bay, tàu chiến, xe tăng, pháo hạng nặng? Nền kinh tế Việt Nam so với kinh tế Mỹ bằng bao nhiêu phần trăm?... Từ đó, khuyên ta không nên đánh Mỹ mà hãy tập trung sức để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Nhưng với ý chí tự lực “lấy sức ta mà giải phóng cho ta”; trên cơ sở nhận rõ tính chính nghĩa và ưu thế tuyệt đối về mặt chính trị, tinh thần thuộc về nhân dân ta, Đảng ta khẳng định ý chí, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.  Đảng ta tiến hành đường lối đúng đắn, sáng tạo, đó là thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đường lối đó thể hiện niềm tin tuyệt đối của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào thắng lợi, như Bác Hồ tiên đoán:
“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng! Giặc Mỹ nhất định thua”.
Vì nhận thức được đây là cuộc đấu tranh chính nghĩa, đấu tranh cho độc lập, tự do mà nhân dân ta đã sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc “tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải”,  với lý tưởng, lẽ sống “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù”, tinh thần “cả nước ra trận, toàn dân đánh giặc”, “Tất cả cho tiền tuyến”,  “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” và ý chí “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” lại được phát huy cao độ. Từ đây, ý chí quyết đánh Mỹ được thể hiện qua phong trào: “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”, “Tìm Mĩ mà đánh, lùng ngụy mà diệt” trên toàn miền Nam với tinh thần “còn cái lai quần cũng đánh”, v.v. Đây chính là biểu hiện nổi bật của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, là nét độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Cũng xuất phát từ nhận thức đúng tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến, nhân dân miền Bắc đã ra sức xây dựng miền Bắc vững mạnh, trở thành hậu phương lớn, căn cứ địa cách mạng của cả nước, chi viện nhiều nhất sức người sức của, chia lửa chiến tranh với nhân dân miền Nam anh hùng với tinh thần, “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”... Hàng triệu thanh niên miền Bắc xung phong Nam tiến sẵn sàng từ biệt gia đình lên đường vào Nam chiến đấu:
“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”
           Qua hai tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam mang tên đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển, miền Bắc đã đưa vào miền Nam hàng chục nghìn cán bộ, bộ đội để tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng kinh tế, văn hóa tại các vùng giải phóng. Hàng chục vạn tấn vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, lương thực, thực phẩm, thuốc men… cũng được gấp rút đưa vào miền Nam. Nguồn chi viện cùng với thắng lợi trong chiến đấu và sản xuất của quân dân miền Bắc đã góp phần quyết định vào thắng lợi của quân và dân ta ở miền Nam trong chiến đấu chống các chiến lược chiến tranh của Mĩ.
Từ niềm tin tất thắng dưới sự lãnh đạo của Đảng thì ý Đảng, lòng dân thống nhất, hòa quyện là một, thôi thúc ý chí quyết tâm: dám đánh, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Đây chính là sức mạnh của chính trị, tinh thần vô địch mà kẻ thù không có được. Nhờ đó, nhân dân ta đã làm nên những chiến thắng vang dội như “Đồng khởi” (1959-1960), Ấp Bắc (1963), Bình Giã, An Lão, Ba Gia, Đồng Xoài (1964-1965), thắng lợi trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968, Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đặc biệt là trận “Điện Biên Phủ trên không” (từ ngày 18 đến 29-12-1972) và thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đơn phương” (1954-1960), “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975) của Mĩ, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari (27-1-1973) công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và rút quân về nước (29-3-1973) tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến lên đánh cho “ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975).
Có thể khẳng định: nhân tố chính trị, tinh thần là ưu thế tuyệt đối, là ngọn nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đó là chiến thắng của truyền thống chống giặc ngoại xâm được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã tạc vào Lịch sử Việt Nam một mốc son chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đưa dân tộc ta sang một kỷ nguyên mới: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Đồng thời, góp phần chứng minh luận điểm của V.I. Lê-nin:
“Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”.
2.1.3. Về phía người dân và học giả Hoa Kì
Có hai chiều hướng chính:
Phía thứ nhất, tin vào Chính phủ Mĩ và ủng hộ cuộc chiến chống cộng của quân đội Hoa Kì nhưng số người ủng hộ Mĩ ngày càng giảm do họ cần hiểu được bản chất thực sự của cuộc chiến tranh không giống như những điều mà Chính phủ Mĩ tuyên truyền đến họ. Số người ủng hộ cuộc chiến đã giảm khi cuộc chiến diễn ra trong suốt những năm 60 và đầu thập niên 70.
William L. Lunch và Peter W. Sperlich đã sưu tầm ý kiến công chúng để xem thử mức độ ủng hộ cuộc chiến từ năm 1965–1971. Những người tham gia cuộc trưng cầu ý kiến được hỏi: "In view of developments since we entered the fighting in Vietnam, do you think the U.S. made a mistake sending troops to fight in Vietnam?" ("Theo như sự leo thang từ khi chúng ta tham chiến ở Việt Nam, bạn có nghĩ nước Mỹ đã phạm sai lầm khi gửi quân đến Việt Nam?"). Họ đã ghi lại kết quả sau:

Thời gian Tỉ lệ người ủng hộ
cuộc chiến
tháng 8- 1965 52%
tháng 3- 1966 59%
tháng 5- 1966 49%
tháng 9- 1966 48%
tháng 11- 1966 51%
tháng 2-1967 52%
tháng 5-1967 50%
tháng 7-1967 48%
tháng 10- 1967 44%
tháng 12- 1967 48%
tháng 2-1968 42%
tháng 3-1968 41%
tháng 4-1968 40%
tháng 8-1968 35%
tháng 11- 1968 37%
tháng 2-1969 39%
tháng 10- 1969 32%
tháng 1-1970 33%
tháng 4-1970 34%
tháng 5-1970 36%
tháng 1-1971 31%
tháng 5, 1971 28%
Sau tháng 5-1971 họ dừng việc hỏi câu hỏi trên.
Phía thứ hai cho rằng đây là cuộc chiến tranh xâm lược theo kiểu thực dân mới, còn Việt Nam Cộng hòa chỉ là một dạng chính phủ bù nhìn mà Hoa Kì kế thừa từ Pháp và chính sách chống cộng sản của Chính phủ Mĩ chỉ là cái cớ để phục vụ cho quyền lợi của những tập đoàn tư bản Mĩ.
Từ hai cách nhìn đó, dẫn tới hai hướng hành động khác nhau:
Phía thứ nhất, sẵn sàng quyên góp tiền bạc và nhập ngũ đi tham chiến ở Việt Nam.
Phía thứ hai, phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam bằng các cuộc biểu tình, bằng các bài báo vạch trần tội ác của Mĩ ở Việt Nam và kêu gọi chấm dứt chiến tranh. Đặc biệt, họ còn sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mĩ như tấm gương của anh Norman Morrison tự thiêu trước trụ sở Bộ Quốc phòng Mĩ để phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam. Trong số những người Mĩ biểu tình có cả Tổng thống B.Clin-tơn sau này.
Việc Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam cũng có đóng góp không nhỏ của các phóng viên chiến trường quốc tế, nhất là các nhà báo Mỹ. Với những bài viết, hình ảnh chân thực từ nơi chiến sự, họ đã giúp người dân Mỹ và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tại Việt Nam, tạo nên sức ép công luận buộc chính phủ Mỹ chấm dứt leo thang chiến tranh. Ông David Lamb, phóng viên chiến trường của hãng tin Mỹ UPI, nhớ lại: 
“Trước khi đến Việt Nam, về cơ bản thì tôi ủng hộ chiến tranh, cho rằng đó là điều Mỹ nên làm, tức là chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Nhưng trong 2 năm ở Việt Nam, quan điểm của tôi đã hoàn toàn đảo ngược. Tôi nhận ra rằng đây là cuộc chiến mà Mỹ sẽ không thể chiến thắng, cuộc chiến mà đáng lẽ Mỹ không nên tham gia”.
Có mặt tại khắp các chiến trường Việt Nam từ năm 1968 đến 1970, thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh, rồi sau đó trở lại vào những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 để đưa tin về sự sụp đổ của chính phủ Việt Nam Cộng hòa, nhà báo David Lamb đã quá đủ trải nghiệm thực tế để hiểu lý do thất bại của người Mỹ:
“Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi là không hiểu người Việt Nam, không hiểu lòng kiên nhẫn, sự ngoan cường, chủ nghĩa dân tộc, khả năng chiến đấu, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của các bạn. Đối với thắng bại trong chiến tranh thì đó là sự thiếu hiểu biết chết người. Tôi ước rằng Mỹ đã có thể rút ra được bài học kinh nghiệm từ Việt Nam”.
Những quan điểm, nhìn nhận của những người Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam càng làm sáng tỏ giá trị của cuộc chiến lịch sử này.
2.1.4. Về phía các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc…) và nhân loại tiến bộ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ một liên minh cùng nhau chống phát xít trong Chiến tranh, Mĩ và Liên Xô đã nhanh chóng chuyển sang thế đối đầu – Chiến tranh lạnh, chủ yếu là do sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai siêu cường. Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình và an ninh thế giới, bảo vệ và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội nên tích cực ủng hộ làn sóng cách mạng thế giới. Còn Mĩ, hết sức lo ngại trước ảnh hưởng to lớn của Liên Xô, nhất là khi chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống trên thế giới, trải dài từ Đông Âu tới phía đông châu Á. Từ đó, Mĩ đã ra sức chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Thêm nữa, Mĩ bấy giờ đã vươn lên thành một nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử nên Mĩ tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới.
          Từ đó, Mĩ đã phát động cuộc chiến tranh lạnh (với Thông điệp của Tổng thống Truman đọc trước Quốc hội Mĩ, ngày 12-3-1947) để chống lại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
          Trong thời kì Chiến tranh lạnh ở nhiều khu vực đã diễn ra các cuộc chiến tranh cục bộ làm cho tình hình thế giới hết sức căng thẳng, như đứng bên bờ vực của một cuộc chiến tranh thế giới mới. Và chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã trở thành cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, phản ánh rõ nhất mâu thuẫn giữa hai phe: tư bản chủ nghĩa – xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Liên Xô, Trung Quốc cùng nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, giúp đỡ rất lớn về cả vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn.
          Sở dĩ có sự giúp đỡ đó vì các nước xã hội chủ nghĩa một mặt muốn chống lại âm mưu muốn thống trị thế giới của Mĩ, muốn bảo vệ và phát triển thành quả của chủ nghĩa xã hội; mặt khác, họ cũng nhận thức được rằng: Trong cuộc chiến tranh này, Việt Nam là nước bị xâm lược - là chính nghĩa, Mĩ là nước đi xâm lược – là phi nghĩa.
Cùng với yếu tố nội lực, ngoài sự giúp đỡ của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, chúng ta còn nhận được sự cổ vũ động viên, giúp đỡ của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới cả về vật chất và tinh thần. Sự giúp đỡ quý báu đó đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần vô cùng lớn cho quân và dân ta giành thắng lợi hoàn toàn; đồng thời, được Đảng ta khái quát thành bài học: giương cao ngọn cờ chính nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
 
 
2.1.5. Về phía Chính phủ một số nước phương Tây
Chia thành hai hướng: một bộ phận cho rằng đây là cuộc chiến tranh cần thiết để tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản nên đã ủng hộ Mĩ trong cuộc chiến tranh Việt Nam như CHLB Đức, Anh…
Một số Chính phủ lúc đầu ủng hộ Mĩ nhưng sau đó lại phản đối như Pháp, Phần Lan, Thụy Điển…
2.2. Cách nhìn của Mĩ và Việt Nam sau cuộc chiến tranh (từ sau Đại thắng Mùa Xuân năm 1975 đến nay)
2.2.1. Về phía Chính phủ Mĩ
Cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã tạo ra sự chia rẽ trong xã hội và chính trị của nước Mĩ. Trong thời gian đầu sau Chiến tranh (1975-1994), Chính phủ Mĩ vẫn giữ lập trường nhìn nhận cuộc chiến tranh mà họ đã tiến hành ở Việt Nam là đúng, cần thiết, phục vụ cho lợi ích của Hoa Kì. Việc Việt Nam thắng Mĩ cũng đã để lại một “hội chứng Việt Nam” trong lòng nước Mĩ. Vì vậy, từ năm 1975 đến năm 1994, Hoa Kì đã cấm vận Việt Nam. Trong thời gian này, Việt Nam và Hoa Kì đã đàm phán bình thường hóa quan hệ nhưng không thành, một phần do Việt Nam yêu cầu Hoa Kì bồi thường những tổn thất mà họ gây ra ở Việt Nam, nhưng Hoa Kì đã bác bỏ.
Tuy nhiên, sau đó, Mĩ đã dần thừa nhận những sai lầm của họ trong cuộc chiến ở Việt Nam và muốn khép lại quá khứ đau buồn trong mối quan hệ giữa hai nước những năm 1954-1975. Mắc Namara – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mĩ (1961-1968), người đầu tiên vạch ra các kế hoạch xâm lược Việt Nam bằng quân sự đã thừa nhận trong tác phẩm “Nhìn lại quá khứ - Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam” như sau:
“Nếu chúng ta muốn học từ kinh nghiệm của mình ở Việt Nam, trước tiên chúng ta phải chỉ ra những thất bại của chúng ta. Có 11 nguyên nhân chính gây ra thảm họa của chúng ta tại Việt Nam.
1. Từ đó tới nay, chúng ta đã đánh giá sai các ý định địa – chính trị của đối phương (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt Cộng được Trung Quốc và Liên Xô ủng hộ) và chúng ta thì phòng những nguy cơ đối với nước Mĩ trước những hành động của họ.
2. Chúng ta đã đánh giá nhân dân và các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam, theo kinh nghiệm của chính chúng ta đã nhìn chính ở họ niềm khát khao và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ. Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng chính trị trong nước.
3. Chúng ta đã đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hi sinh cho lí tưởng và các giá trị của nó, và cho đến nay, chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới…”
(Trích lại theo “Tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua hỏi đáp, tập 4, trang167).
Từ sự thay đổi hướng nhìn đó, Mĩ đã dần cải thiện mối quan hệ với Việt Nam.
Năm 1994, Tổng thống Bill Clintơn tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai quốc gia. Đặc biệt, ngày 11-7-1995, Tổng thống Bill Clintơn đã tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, mở ra một chương mới trong mối quan hệ giữa hai nước. Văn phòng Liên lạc được nâng cấp thành Tòa đại sứ Mĩ đặt tại Hà Nội. Việt Nam cũng đặt tòa đại sứ ở Washington D.C. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực, đã kí Hiệp định Thương mại song phương (7-2000), có hiệu lực từ tháng 12-2001. Tháng 11-2007, Hoa Kì chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mại Bình thường Vĩnh viễn cho Việt Nam. Ngày 23-5-2016, nhân chuyến thăm tới Việt Nam, Tổng thống Barack Obama công bố quyết định dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận bán vũ khí sát thương với trong cuộc Hội đàm với Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đại Quang, mở ra mối quan hệ tốt đẹp và ấm dần lên giữa hai nước từng là cựu thù.
Hoa Kì còn có nhiều hoạt động hỗ trợ nhân đạo và hàn gắn hậu quả chiến tranh.
Qua các tổ chức phi chính phủ, Hoa Kì cũng thường xuyên viện trợ nhân đạo cho Việt Nam trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. Tháng 5-2007, Quốc hội Mĩ đã phân bổ khoản ngân sách 3 triệu USD nhằm khắc phục ảnh hưởng của chất độc màu da cam và môi trường tại một số địa điểm ở Việt Nam; đến năm 2009, con số này đã tăng lên 6 triệu USD.
Hoa Kì cũng có nhiều viện trợ về kinh tế và chuyển tiếp công nghệ cho Việt Nam. Tháng 3 năm 2015, Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh ký kết tài trợ không hoàn lại cho công ty TNHH Xây dựng - thương mại - du lịch Công Lý một khoản viện trợ lên đến gần 1 tỷ USD, để thực hiện chương trình nghiên cứu khả thi phát triển nhà máy điện gió Bạc có công suất 300MW. Cũng trong khuôn khổ của chương trình hỗ trợ của Chính phủ Hoa Kỳ cho Việt Nam với thời gian kéo dài 15 năm, Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (USAID) sẽ triển khai 75 dự án về các lĩnh vực như hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế và đặc biệt là năng lượng sạch.
Về thương mại, khi Hiệp định Thương mại song phương bắt đầu có hiệu lực (2001), thương mại hai chiều giữa hai nước được gia tăng, kết hợp với dòng đầu tư quy mô lớn của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Trong năm 2006, Hoa Kỳ xuất khẩu 1,1 tỷ USD hàng hóa vào Việt Nam và nhập khẩu 8,6 tỷ USD từ Việt Nam.
2.2.2. Về phía những người lính Mĩ thời hậu chiến
Cái chết chưa phải là tất cả, chiến tranh Việt Nam còn để lại những hậu quả khôn lường cho những binh lính Mỹ sống sót trở về. Nó đã “mở ra” một thời kì “sau Việt Nam” đầy đen tối cho nước Mỹ. Đi liền với cái chết, thương tật và những di chứng, binh lính Mỹ còn gặp phải nỗi ám ảnh mang tên “hội chứng Việt Nam” bởi cuộc chiến không kết thúc vào lúc ngừng tiếng súng. Nó vẫn còn tiếp diễn với nhiều người, đặc biệt là những người lính trở về từ chiến trường. Nỗi đau mất đi người thân, đồng đội hoặc một phần thân thể, nỗi ám ảnh về những nghịch cảnh bạo tàn của quá khứ như bóng ma cứ đeo đuổi mãi, khiến cho vết thương tâm hồn ngày càng trầm trọng thêm, khi mà vết thương thịt da đã được chữa lành.
Nhiều người Mỹ trở về từ cuộc chiến đã mãi kẹt lại ở quá khứ, với những day dứt, hận thù, ám ảnh. Đó là những chấn động lớn về tâm lý và tình cảm của người Mỹ nói chung và các cựu chiến binh Mỹ nói riêng. Nó khiến cho hầu hết lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều nghiện một chất gì đó như rượu, thuốc lá… thậm chí cả heroin.
Theo số liệu thống kê có khoảng 1/5 số lính Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam trong những năm 70 đã nghiện ma túy. Bên cạnh đó, những tổn thương về tâm lý ở họ còn biểu hiện rõ ràng là thường xuyên trong trạng thái lo lắng, căng thẳng. Hàng chục năm sau chiến tranh Việt Nam, những triệu chứng bệnh đó vẫn còn tồn tại. Đó là cái giá quá đắt mà nước Mỹ phải trả cho cuộc chiến “định mệnh” của họ ở Việt Nam.
Người lính Mỹ đã gặp phải hai cú sốc nặng nề sau khi trở về từ cuộc chiến. Đầu tiên là khi mang súng sang Việt Nam, họ bị tuyên truyền là chiến sĩ bảo vệ tự do, bảo vệ Việt Nam khỏi họa bị “cộng sản” xâm lấn. Thế nên, có những người sau nhiều năm trở về từ cuộc chiến vẫn cho rằng mình chiến đấu cho phe chính nghĩa. Ông James G. Zumwalt, tác giả cuốn sách “Chân trần, chí thép”, là một ví dụ.
Ông Zumwalt sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nhiều đời binh nghiệp, có nhiều hơn một lý do để tự giam hãm mình trong cuộc chiến của quá khứ, để cho những thù hận trầm tích theo tháng năm. Trong một thời gian dài, chừng hai mươi năm sau ngày Chiến tranh Việt Nam kết thúc, ông vẫn nhìn về phía Việt Nam, kẻ thù cũ của nước Mỹ và của chính bản thân ông, với một niềm hận thù dai dẳng. Cái chết của người anh trai vì căn bệnh ung thư, hậu quả của phổi nhiễm chất độc cam, càng khiến ông Zumwalt nung nấu lòng thù hận, với niềm tin xác quyết rằng chính người Việt Nam đã gây ra cho ông bi kịch gia đình ấy.
Cho đến năm 1994, ông James G. Zumwalt có một chuyến đi tiếp xúc với những con người từng ở bên kia chiến tuyến làm thay đổi tâm hồn và nhận thức của mình. Trước chuyến đi, ông chỉ tin rằng cuộc chiến của người Mỹ là chính nghĩa, nỗi đau mà người Mỹ hứng chịu từ cuộc chiến là duy nhất có ý nghĩa, và người Việt Nam phía bên kia chiến tuyến là kẻ thù tàn bạo, phải chịu trách nhiệm trước cuộc thua của người Mỹ và bi kịch gia đình ông. Qua những cuộc tiếp xúc từ các tướng lĩnh cấp cao tới những người dân thường, từ những trai làng xung phong ra trận tới những phụ nữ một lòng son sắt, ông Zumwalt đã vỡ ra điều bất khả tri bấy lâu.
Sau chuyến đi ấy, ông mới nhận ra: “Một vài ý kiến tại Mỹ cho rằng nếu tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam một cách hợp lý, không có áp lực chính trị, thì người Mỹ đã chiến thắng. Trước khi trở lại Việt Nam vào năm 1994, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng giờ đây tôi đã nghĩ khác. Chuyển biến trong tôi chỉ diễn ra sau khi tôi thấu hiểu được rằng người Việt Nam có một ý chí sắt đá để có thể chiến đấu đến chừng nào đạt được mục tiêu thống nhất đất nước mới thôi”.
Cú sốc thứ hai với những người lính Mỹ là ngày về, thay vì được đón chào như những anh hùng dân tộc như những lớp cha anh họ sau Chiến tranh thế giới thứ hai hoặc là thế hệ con cháu họ sau này sau vùng Vịnh, họ bị coi là những kẻ giết người.
Số cựu binh Mỹ tự sát sau chiến tranh nhiều hơn cả số người bỏ mạng trong chiến tranh. Có lẽ hơn ba phần tư trong số một triệu người trở thành vô gia cư hoặc thất nghiệp. Gần 700.000 lính quân dịch, rất nhiều người xuất thân nghèo khó, giáo dục thấp không được hưởng trợ cấp xứng đáng. Họ rất khó khăn khi tìm kiếm việc làm, duy trì các quan hệ gia đình…
Hơn nữa, thực tế, hầu như chính phủ Mỹ không làm gì để hỗ trợ các cựu chiến binh cùng gia đình của họ. Sau cuộc chiến đã xuất hiện hàng loạt tác phẩm, phim ảnh, chương trình truyền hình mô tả cuộc sống của cựu binh Mỹ, những ký ức tồi tệ họ trải qua, chứng loạn thần họ gánh chịu khi tham chiến ở Việt Nam và cả khi đã trở về nhà. Nhiều cựu binh đã thành công khi trở lại cuộc sống của những người dân bình thường, nhưng rất nhiều người thất bại.
Vì vậy, một số cựu binh Mĩ tại Việt Nam đã chọn cách quay trở lại viện trợ nhân đạo, làm từ thiện tại Việt Nam để vơi đi một phần nào nỗi day dứt của họ, để ươm mầm sự sống từ những đau khổ, mất mát, hi sinh.
2.2.3. Về phía Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam
          Sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975, nhất là từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới (từ 1986 đến nay), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế với tinh thần: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Thực hiện quan điểm của đường lối đối ngoại đó, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ hợp tác với Mĩ trên nhiều lĩnh vực trên tinh thần gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Việt Nam và Mĩ đã xác định khuôn khổ “quan hệ hữu nghị, đối tác xây dựng, hợp tác nhiều mặt, ổn định lâu dài, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi”.
Cùng với Đảng, Chính phủ, nhân dân Việt Nam cũng có chung quan điểm: Thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người,  đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỉ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Tuy nhiên, chúng ta đều xác định đó đã là một chiến tranh trong quá khứ, chúng ta không quên quá khứ đau thương một thời của dân tộc, tội ác của giặc Mĩ và sự hi sinh, mất mát to lớn của các thế hệ cha anh, nhưng chúng ta chấp nhận gác lại quá khứ để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn cho cả hai dân tộc. Đó cũng là sự viết tiếp truyền thống nhân đạo, yêu chuộng hòa bình từ ngàn đời nay của ta.
Trên cơ sở cách nhìn đó, từ 22-10 đến 25-10-1995, Đại tướng Lê Đức Anh, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và phu nhân gặp chính thức với Tổng thống Bill Clinton và và phu nhân tại Thành phố New York trong dịp đến Mỹ tham dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp Quốc. Đại tướng Lê Đức Anh là nguyên thủ nước Việt Nam thống nhất đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Sau đó, nhiều nhà lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam cũng đã có những chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kì. Hai bên đã cùng kí nhiều văn kiện hợp tác đôi bên cùng có lợi trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, văn hóa…
Nhân dân Việt Nam cũng sẵn sàng chào đón các nguyên thủ của Mĩ sang thăm Việt Nam như: Tổng thống Bill Clinton (2000), George Bush (2006), Bazack Obama (2016) với một tình cảm nồng ấm. Nhiều thương nhân Việt Nam đã và đang có các đối tác quan trọng là các thương nhân Hoa Kì. Nhiều trường Đại học Việt Nam cũng đã có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các trường Đại học của Mĩ. Một số gia đình Việt Nam đều muốn con cái được du học ở Mĩ…
2.3. Vận dụng chuyên đề vào quá trình giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam 1954-1975
          Trên cơ sở các nội dung đã được bước đầu tìm hiểu trong chuyên đề, giáo viên có thể khai thác thêm các tư liệu để phục vụ cho quá trình giảng dạy Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975, 1975-2000. Sau đây là một vài ví dụ:
2.3.1. Khai thác cách nhìn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với Chính phủ Hoa Kì và Việt Nam Cộng hòa (trong cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao)
          Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy kiên quyết chiến đấu chống Mĩ xâm lược cho đến khi “không còn một tên lính Mĩ trên đất nước ta” (Hồ Chí Minh), song chúng ta sẵn sàng thương lượng với Mĩ để giải quyết vấn đề chiến tranh trên nguyên tắc “Mĩ phải rút quân về nước, bảo đảm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ”. Nhiều cuộc tiếp xúc giữa Việt Nam và Mĩ đã diễn ra song không thành công vì Mĩ ngoan cố không từ bỏ âm mưu xâm lược.
          Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ngày 31-3-1968, Mĩ phải xuống thang chiến tranh, tuyên bố ngừng ném bom bắn phá miền Bắc và bắt đầu nói đến thương lượng với Việt Nam.
          Cuộc thương lượng đầu tiên diễn ra tại Pa-ri giữa hai bên ngày 13-5-1968, gồm đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Mĩ.
          Ngày 25-1-1969, hội nghị bốn bên bắt đầu, gồm đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (sau là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; Chính phủ Mĩ và Việt Nam Cộng hòa.
          Lập trường của hai bên – phía Việt Nam và phía Mĩ (cùng chính quyền Sài Gòn) rất khác nhau, mâu thuẫn nhau, khiến cuộc hội nghị kéo dài và diễn ra gay go, phức tạp có lúc bị gián đoạn).
          Lập trường phía Việt Nam là quân Mĩ và quân đồng minh của Mĩ phải rút về nước; Mĩ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.
          Lập trường của Mĩ là đòi quân đội miền Bắc cũng phải rút khỏi miền Nam.
          Như vậy, Mĩ đã đặt ngang hàng giữa kẻ đi xâm lược (Mĩ) và người bị xâm lược (Việt Nam)…
          Cuối cùng, sau thắng lợi của quân dân ta trong trận “Điện Biên Phủ trên không” (từ 18 đến 29-12-1972) đã đập tan nỗ lực quân sự cao nhất và cuối cùng của Mĩ, buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và rút hết quân về nước.
2.3.2. Khai thác cách nhìn của người Mĩ về cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975 (thông qua câu chuyện của anh Norman Morrison – một người Mĩ yêu chuộng hòa bình đã tự thiêu để phản đối chiến tranh Việt Nam.)
Giữa những năm tháng cả nước Mỹ đang dấy lên phong trào phản đối cuộc chiến tranh do Chính phủ Mỹ đang mở rộng tại Việt Nam, buổi sáng ngày 2-11-1965 đã trở thành một thời khắc không thể nào quên với những người yêu công lý trên toàn thế giới khi Norman Morrison - một công dân Mỹ, bế con gái út mới 18 tháng tuổi tên là Emily đến đặt trước cửa Lầu Năm Góc (trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ), hôn vĩnh biệt đứa con gái yêu rồi đổ can xăng mang theo lên người mình và châm lửa tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của nhà cầm quyền Mỹ tại Việt Nam
Là tín đồ thuộc giáo phái Quaker, lúc đó Morrison mới 32 tuổi. Tốt nghiệp khoa Thần học Đại chủng viện Pittsburg, anh đang hạnh phúc sống cùng vợ và ba con mà Emily là con gái út. Từng tham gia nhiều hoạt động chống chiến tranh, ba tháng trước ngày tự thiêu anh đã gửi một bức thư đến báo Mặt trời Baltimore (Mỹ) với những dòng đầy bức bối :
“Thanh niên Mỹ chúng ta không có lý do gì phải đáp ứng lời kêu gọi mà người ta bảo là yêu nước... Tổng thống Giônxơn rêu rao rằng kẻ thù của chúng ta bị cộng sản châu Á xúi giục, nhưng tại sao người Mỹ chúng ta lại phải chết vì lời xúi giục ấy? Khó có thể tưởng tượng cuộc chiến tranh này kéo dài, nhưng dù sao cũng đủ thời gian cho người Mỹ chúng ta hiểu ra rằng cần phải chấm dứt loại chiến tranh này”.
Đau đớn trước công lý bị bóp méo, lương tri bị đầu độc, hàng ngàn thanh niên Mỹ đã và sẽ tiếp tục bỏ mạng một cách vô ích trên một nước Việt Nam bé nhỏ, xa xôi, khao khát hoà bình, đang phải đội mưa bom bão đạn của Mỹ để giành lấy tự do độc lập, Morrison đã hy sinh cuộc đời và hạnh phúc của mình để làm cây đuốc sống thức tỉnh lương tri của những người Mỹ.
Mặc dù nhà cầm quyền Mỹ đã cố tìm cách bưng bít thông tin nhưng sức nóng từ sự hy sinh cao cả và đầy bi tráng của Morrison vẫn gây chấn động không chỉ trong nước Mỹ mà còn lan toả đến nhiều nước khác trên thế giới. Những làn sóng phản đối chiến tranh cuồn cuộn dâng lên ở khắp mọi nơi. Một tuần sau cái chết của Morrison, Roge Allen LaPorte, một người Mỹ Công giáo 22 tuổi đã tiếp bước anh, tự thiêu ngay trước trụ sở Liên Hiệp quốc để phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam và kêu gọi nhân dân Mỹ đứng lên bảo vệ công lý.         
Xúc động vô hạn trước hành động dũng cảm của anh, từ Việt Nam đang kiên cường chống Mỹ, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Emily con” để ngợi ca sự hy sinh cao cả của anh và chia sẻ sự đồng cảm với anh về tình yêu của một người cha dành cho đứa con trước khi quyết tử. Bài thơ sau khi ra đời đã nhanh chóng được phổ biến và đi vào lòng người dân Việt Nam với những vần thơ tràn đầy xúc động. Bài thơ có đoạn:
“Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe
Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe
Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!
Cha bế con đi, tối con về với mẹ...”
Và:
“Ta đứng đây,
Với trái tim vĩ đại
Của triệu con người
Nước Mỹ
Để đốt sáng đến chân trời
Một ngọn đèn
Công lý...”
Sau này khi hồi tưởng lại, bà Anne Welsh, vợ của Norrman Morrison đã nói: “Bé Emily là biểu tượng khôn cùng của những trẻ em Việt Nam mà Mỹ đã giết hại bằng bom đạn, na-pan và của những đứa trẻ không còn có cha mẹ để được bế bồng trên tay”.
Chiến tranh đã trôi qua, hoà bình và những vết thương chiến tranh đã được nhân dân và chính phủ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ tích cực hàn gắn bằng những hoạt động thân thiện và đạt nhiều kết quả. Nhưng câu chuyện lịch sử về Norrman Morrison với những khát vọng hoà bình và giá trị nhân văn cao cả sẽ mãi mãi trường tồn với thời gian và góp thêm niềm tin cho nhân dân hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ cùng khép lại quá khứ, hướng tới tương lai hòa bình và phồn thịnh.
2.3.3. Khai thác cách nhìn của người dân Việt Nam với cuộc chiến tranh thông qua các tấm gương chiến đấu và hi sinh anh dũng (của đội quân tóc dài, của các tín đồ Phật giáo, tiêu biểu như nhà sư Thích Quảng Đức, của anh Nguyễn Văn Trỗi, anh Nguyễn Viết Xuân, chị Út Tịch…)
* “Đội quân tóc dài”
Đội quân tóc dài là tên gọi chung cho các phong trào đấu tranh chống Mỹ của phụ nữ miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Bến Tre và các tỉnh miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
          Đội quân tóc dài tỉnh Bến Tre ra đời trong phong trào “Đồng khởi”  đầu thập kỷ 60, sau khi có Nghị quyết 15 của Trung ương mở ra con đường đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Những người cộng sản miền Nam nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng đã cùng với quần chúng nổi dậy thành cao trào Đồng khởi do cố Nữ tướng Nguyễn Thị Định, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, nguyên Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, nguyên chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước lãnh đạo.
          Đầu năm 1960 tại 3 xã: Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh của huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre dấy lên phong trào chống giặc sôi nổi. Sau đó phong trào lan rộng ra 47 xã thuộc 6 huyện của tỉnh Bến Tre tiến hành phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ cho nhân dân.
          Trong đó, đội quân tóc dài do đồng chí Nguyễn Thị Định lãnh đạo đã vận dụng nhuần nhuyễn phương châm 3 mũi giáp công: Chính trị, binh vận, và vũ trang để tấn công quân Mỹ - ngụy. Danh xưng “Đội quân tóc dài” lại bắt nguồn từ chính sự khiếp sợ của viên Đại tá, chỉ huy trưởng cuộc hành quân Nguyễn Văn Y. Viên đại tá này thốt lên: “Thôi đành phải chịu thua đội quân đầu tóc”.
Nhiều lần thất bại trước đội quân toàn phụ nữ, địch càng dùng nhiều thủ đoạn thâm độc để đối phó. Chúng lấy kéo xông vào cắt tóc của các cô, bắt bớ, giam cầm; dùng những đòn tra tấn dã man như ngâm nước, phơi nắng, hãm hiếp, truy bức... Tuy vậy, những hành động tàn độc trên vẫn không khuất phục được ý chí gan dạ đấu tranh chống lại bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai của chế độ Việt Nam cộng hòa.
          Điển hình như bà Nguyễn Thị Đời ở xã Châu Bình, huyện Giồng Trôm nguyên là chỉ huy trưởng đấu tranh chính trị tại địa phương đã nhiều lần đấu tranh trực diện với kẻ thù. Có lần bà Năm Đời bị địch bắt, tra tấn buộc phải dẫn về cơ sở cách mạng. Bằng sự khéo léo và chấp nhận hy sinh để bảo vệ đồng đội, cô đã dẫn bọn địch vào bãi mìn. Bị mìn nổ, địch tổn thất nặng còn cô Năm Đời chỉ bị thương. Chúng tức tối túm tóc cô lôi đi khoảng 5 cây số khiến da đầu rách toạc, máu chảy đầm đìa.
Còn bà Nguyễn Thị Xinh, ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre trong quá trình đấu tranh chính trị, bà Xinh bị giặc bắt rất nhiều lần. Có lần bị bắt lúc đang mang thai chuyển dạ. Hậu quả những đòn tra tấn dẫn đến thai nhi trong bụng bị chết.
          Còn tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm có đội lân nữ đã từng phục vụ cho kháng chiến. Đội lân ra đời để nhờ tiếng đàn hát, tiếng trống lân rộn ràng nhằm che mắt địch trong lúc có thể tập hợp lực lượng để đấu tranh chính trị. Bà Võ Thị Kiển, thành viên của đội lân xã Lương Hòa bị địch phát hiện đã tra tấn dã man, đứa con 8 tháng trong bụng mẹ phải tử vong. Dù vậy, bà vẫn nén nỗi đau gia đình tiếp tục đi tuyên truyền chính trị. Đây là ba trong số hàng nghìn phụ nữ bị địch bắt bớ, giam cầm, khảo tra ở miền Nam trong những năm “Đồng khởi”.
          Bà Võ Thị Kiển kể lại: “Mấy chị trong đội lân này trước kia là phụ nữ giải phóng miền Nam. Giặc áp đánh dữ lắm, xô dưới nước, trấn nước, phơi nắng, chở đầu này đổ đầu kia, gian nan lắm. Hồi đó mình chỉ chọn 2 con đường: một là giải phóng thì thôi, bằng không thì chết chứ không thể sống với giặc. Trong năm 1963, tôi bị phơi nắng tại huyện Giồng Trôm, đứa nhỏ 8 tháng phơi nắng bữa trước đến bữa sau bệnh chết. Thì mình cũng sợ nhưng mình quyết tâm làm thì làm, phải đi thôi”.
          Cùng với phong trào Đồng khởi năm 1960, sự phát triển của Đội quân tóc dài tỉnh Bến Tre là hiện tượng độc đáo của phong trào chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam.
          Đội quân tóc dài của tỉnh Bến Tre đã vang danh và nhân rộng khắp miền Nam, đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng ở miền Nam Việt Nam thời chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam, xứng đáng là con cháu của Bà Trưng, Bà Triệu.
* Hòa thượng Thích Quảng Đức
Vào ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã ngồi thiền trên đường nhựa nóng. Trong tay Hòa thượng cầm một xâu chuỗi 54 hạt và bắt đầu niệm Phật. Trên chiếc áo cà sa của Hòa thượng thì đã tẩm ướt đầy xăng. Tất cả Tăng Ni lùi lại, kính cẩn, kinh sợ. Khách bộ hành nhận thấy một biến cố phi thường gì sắp xẩy ra nên tất cả đều dừng lại chờ đợi.
Với vẻ yên lặng, bình thản trên khuôn mặt, Hòa thượng Quảng Đức niệm lớn: “Nam Mô A Di đà Phật”. Thế rồi Người bật một que diêm và ngọn lửa bốc lên phủ kín thân thể nhưng Người không hề rên la hay lay động. Người ngồi thẳng trong mười phút, thân hình chìm trong lửa đỏ và khi lửa tàn, Người nằm xuống bất động...
Người ta có thể tự hỏi sự khủng khiếp và niềm phẫn hận nào đã có thể khiến cho một người của “Tình Thương” của “Hòa Bình”, quyết chí tự thiêu?...  Nếu sự tuyệt vọng hoàn toàn và chán đời cực độ đã đưa con người trên đời nầy đến chỗ tự tử, thì một lý tưởng cao cả nhất và lòng yêu đời nồng nàn nhất một đôi khi cũng đã sản xuất những người tử đạo quả cảm nhất trong lịch sử... Hòa thượng Quảng Đức hy sinh đời mình bằng cách tự thiêu để thức tỉnh lương tâm của Tổng thống Diệm và lưu ý cho toàn thế giới..
Người đã chịu đựng sự đau đớn của tia lửa hồng đang đốt da thịt nhưng không một lời kêu than. Người gửi mấy lời của Người cho Tổng thống Diệm, và cho đến nay ông Diệm vẫn chưa chịu nghe hay chú ý. Nhưng dù sao tiếng nói ấy vẫn là tiếng nói của tình thương, tiếng nói mà trong thâm tâm của nó chứa đựng sự giải thoát của miền Nam Việt Nam. Người đã làm và Người phải làm, cho mỗi người Hoa Kỳ đi tìm linh hồn của Người và cho chính phủ Hoa Kỳ biết rằng, trừ khi chính phủ Sài Gòn thực thi ngay quyền bình đẳng tôn giáo cho tín đồ Phật giáo và tự do cho dân chúng Việt Nam, tất cả mọi viện trợ của Hoa Kỳ đều phải chấm dứt ngay...
Ngọn lửa ấy có thể thành một tia hy vọng cho những người từ lâu bị áp bức bởi người ngoại quốc hay bởi ngay chính đồng bào của họ...”
* Nhất Chi Mai
Nhất Chi Mai (20 tháng 2 năm 1934 - 16 tháng 5 năm 1967) tên thật Phan Thị Mai, tự Nhất Chi, pháp danh Thích nữ Diệu Huỳnh, là một nữ Phật tử đã tự thiêu ở Sài Gòn để phản đối Chiến tranh Việt Nam.
Vào 7 giờ 20 sáng ngày 8 tháng 4 âm lịch năm Đinh Mùi (16 tháng 5 năm 1967 dương lịch), tức ngày Phật Đản thứ 2511, bà đã tưới xăng lên người mình và châm lửa tự thiêu trước sân chùa Tư Nghiêm (Sài Gòn, nay thuộc Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Bà mất khi mới chỉ 33 tuổi. Trước khi tự thiêu, bà đã để lại 10 bức di thư với nội dung kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh, trong đó có bài:
Chấp tay tôi quỳ xuống
Sao người Mỹ tự thiêu?
Sao thế giới biểu tình?
Sao Việt Nam im tiếng?
Không dám nói Hòa Bình?
Tôi thấy mình hèn yếu!
Tôi nghe lòng đắng cay!
Sống mình không thể nói
Chết mới được ra lời!.
Hòa bình là có tội!
Hòa Bình là Cộng sản!
Tôi vì lòng nhân bản,
Mà muốn nói Hòa Bình.
Chấp tay tôi quỳ xuống
Chịu đau đớn thân này
Mong thoát lời thống thiết!
Dừng tay lại người ơi!
Dừng tay lại người ơi!
Hai chục năm hơn rồi,
Nhiều máu xương đã đổ,
Đừng diệt chủng dân tôi!
Đừng diệt chủng dân tôi!
Chấp tay tôi quỳ xuống.
* Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi trong bức ảnh Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trước pháp trường: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu nước - nhất là cho các cháu thanh niên học tập!”
Vào sáng thứ Hai ngày 11/5/1964, phái đoàn đặc biệt của Mỹ đến sân bay Tân Sơn Nhất, gồm: Mácnamara - Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dẫn đầu, Thống tướng Maxwell-Taylor - Chủ tịch Hội đồng tham mưu hỗn hợp, Đại tướng Westmoreland - Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, Mac-Cone - Giám đốc Cục tình báo CIA và nhiều quan chức cấp cao khác. Đây là một phái đoàn sừng sỏ có đầy đủ thẩm quyền quyết định tại chỗ mọi vấn đề về quân sự, kinh tế, chính trị... của chính quyền Sài Gòn. Do tầm quan trọng đó mà chính quyền Sài Gòn tăng cường kiểm soát nghiêm ngặt các tuyến đường phái đoàn sẽ đi qua từ mấy hôm trước.
Trong khi đó, tổ của Tư Kiếm, bằng trí thông minh đã đánh lừa được bọn lính gác để Lời và Ba Sơn đặt quả mìn 8 ký ngay gần đầu cầu Công lý (nơi phái đoàn sẽ đi qua) từ trưa ngày 8/5/1964. Đến 9 giờ 30 phút tối 9/5/1964, tổ Tư Kiếm xuất phát để hoàn tất việc chuẩn bị còn lại. Tư Kiếm và Ba Sơn ở vòng ngoài bảo vệ cho anh Trỗi và Lời kéo dây điện nối với trái mìn đặt sẵn. Khi anh Lời nối được dây điện vào quả mìn thì bị một tên là em của cảnh sát phát hiện, báo cảnh sát đến bao vây, bắt anh Trỗi và Lời. Nghe ồn ào, bà con xung quanh ra xem rất đông, lúc đó Tư Kiếm và Ba Sơn đứng ngoài, có súng, có lựu đạn trong tay nhưng không thể hành động để giải vây, vì sợ gây thương vong đến người dân, đành cắn răng để đồng đội bị bắt. Ngay từ đầu anh Trỗi đã nhận mọi trách nhiệm về mình, để tránh tai nạn cho đồng đội, cơ sở đã nuôi nấng mình, đặc biệt là để cứu sống Lời.
Tại Tổng nha cảnh sát, bọn địch vừa tra tấn, vừa dụ dỗ anh Trỗi, nhưng chúng hoàn toàn thất bại. Mấy ngày sau, anh Trỗi thừa cơ hội nhảy lầu vượt ngục nhưng bị gãy chân nên bị bắt lại. Địch đưa đi chữa trị ở Bệnh viện Chợ Rẫy, sau đó biệt giam anh. Đến ngày 8.8.1964, địch đưa anh Trỗi và Lời về Khám Chí Hòa. Ngày 10/8/1964, chúng đưa hai anh ra tòa. Trước tòa, anh Trỗi đã trở thành người buộc tội đế quốc Mỹ và tay sai: “Chính bọn Mỹ mới là kẻ có tội, là thủ phạm gây ra cảnh xóm làng tan nát, cảnh chết chóc lầm than, con mất cha, vợ mất chồng”. Chiều 11/8/1964, địch đưa anh Trỗi đến phòng giam 3B11 trên lầu hai.
Thời gian ở trong tù, anh đã chịu bao nhiêu cực hình tra tấn của địch; nhưng anh vẫn luôn giữ vững khí tiết của người cộng sản, bảo vệ cơ sở cách mạng và tìm cách vượt ngục để được tiếp tục chiến đấu. Nhiều lần anh đã nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Còn giặc Mỹ, không ai có hạnh phúc cả”. Câu nói ấy không chỉ gây xúc động trong tuổi trẻ và nhân dân ta, mà cả tuổi trẻ và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Tuy biết trước sẽ bị tử hình nhưng anh vẫn ung dung, lạc quan, yêu đời, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cảm kích trước hành động của anh, để cứu anh, một tổ chức du kích nước Venezuela tuyên bố trao đổi anh với một con tin là trung tá không quân Mỹ - Michael Smolen mà họ vừa bắt giữ. Tuy nhiên, khi viên sĩ quan Mỹ này được trả tự do thì anh Trỗi bị địch đưa đi xử bắn.
Vào lúc 9 giờ 45 phút, ngày 15/10/1964, địch đưa anh Trỗi ra pháp trường Chí Hòa xử bắn. Chân anh vẫn còn đau do lần nhảy lầu vượt ngục không thành, người anh gầy yếu do chế độ hà khắc của nhà giam tử tù, nhưng tinh thần của anh không hề nao núng, không hề khuất phục trước đường lê, mũi súng giặc. Anh không cho bịt mắt để được nhìn nhân dân, đất nước và thể hiện khí phách trước kẻ thù… Trong những phút cuối cùng, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài, anh đã hô vang: “Hãy nhớ lấy lời tôi! Đả đảo đế quốc Mỹ! Đã đảo Nguyễn Khánh! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”, được các phóng viên ghi lại.
Ngày 17/10/1964, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng Nhất. Năm 1995, Đảng và Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho anh.
                                                3. KẾT LUẬN  
          Cuộc chiến tranh Việt Nam 1954-1975 đã đi qua với nhiều cách nhìn khác nhau. Cũng giống như các sự kiện lịch sử khác, cuộc chiến tranh này đã là một phần của lịch sử, những gì cuộc chiến đã diễn ra không thể nào thay đổi nhưng cách nhìn về cuộc chiến này hoàn toàn có thể thay đổi. Theo quan điểm của cá nhân tôi, với tư cách là một công dân Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể đồng cảm với quan điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam cũng như nhân dân Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh. Chúng ta càng có quyền đáng tự hào về những chiến công hiển hách mà nhân dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc đã đạt được trong giai đoạn 1954-1975. Chúng ta cũng có quyền đau xót vì những hi sinh mất mát của các thế hệ cha ông, có quyền căm thù tội ác của giặc Mĩ (giặc Mĩ là từ để chỉ những người Mĩ trong Chính phủ Mĩ và dân Mĩ có tư tưởng muốn xâm lược Việt Nam chứ không phải toàn bộ nhân dân Mĩ). Và những người dân Mĩ và cả Việt Nam thời hậu chiến nên biết trân trọng câu chuyện của quá khứ để có mối quan hệ tốt hơn trong hiện tại – vì lợi ích của cả hai quốc gia.
          Mỗi giáo viên lịch sử cũng cần thường xuyên tìm hiểu thêm những cách nhìn mới với những sự kiện đã “cũ” để hiểu sâu sắc hơn, đa chiều hơn về các sự kiện lịch sử, góp phần làm cho bài giảng sinh động hơn, hiệu quả giáo dục, giáo dưỡng cao hơn.
          
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Lịch sử 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2013.
2- Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Đào tạo Giáo viên THCS, Giáo trình Lịch sử Việt Nam (1945-1954), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.
3 - Hồ Chí Minh - Toàn tâp, Tập 12, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011.
4- Nguyễn Đình Lễ - Bùi Thị Thu Hà (Đồng chủ biên), Tìm hiểu Lịch sử Việt Nam qua hỏi đáp, tập 4, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2008.
5 – Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002.
6. Một số tài liệu trên mạng Internet.
 

Tác giả:

Đặng Thị Hiền

  • Chia sẻ trên
Bạn có thể gửi thắc mắc tại đây
Bình luận bài viết