PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI

A.  PHẦN MỞ ĐẦU
 
1.     Lý do chọn đề tài
 
Một trong những nội dung hết sức quan trọng của Lịch sử thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai là phong trào giải phóng dân tộc. Phong trào là một cuộc cách mạng xã hội vĩ đại, rộng lớn, đánh dấu sự trỗi dậy của các nước thuộc địa và phụ thuộc ở Á, Phi, Mĩ Latinh, liên quan đến vận mệnh của 2/3 dân số toàn nhân loại, làm thay đổi bản đồ chính trị thế giới, để từ đó từng bước làm thay đổi cả bản đồ kinh tế và lịch sử quan hệ quốc tế. “Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, thành tựu của các nước Á, Phi và Mĩ Latinh trong phong trào giải phóng dân tộc đã đạt được bằng mấy thế kỷ trước cộng lại. Vào đầu thế kỷ XX, các nước tư bản Âu – Mĩ kiểm soát 84% diện tích thế giới. Năm 1900, chỉ có khoảng 45 nước độc lập, trong đó một nửa nằm ở khu vực Mĩ Latinh. Đến năm 1945, đã có trên 60 nước độc lập. Từ năm 1945 đến 1965 đã có thêm 40 nước ở châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh giành được độc lập. Cho đến thập kỉ 90, con số các nước độc lập đã lên tới trên 190 quốc gia. Phần lớn các nước này là thành viên của Liên hợp quốc, tham gia vào quyết định vận mệnh của thế giới và làm cho quan hệ quốc tế trở nên rất sôi động và phong phú như một nhà nghiên cứu đã từng khẳng định rằng: ...ngày nay, không một vấn đề quốc tế quan trọng nào được giải quyết một cách triệt để mà không có  sự tham gia của các nước độc lập trẻ tuổi này. Ngày nay, không một lực lượng chính trị lớn nào trên thế giới, không một chính khách nghiêm túc nào lại có thể coi thường vai trò của các nước mới giải phóng”. (Trích theo tác giả Đỗ Thanh Bình, Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, một cách tiếp cận”, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006, trang 306 - 307).
Với ý nghĩa to lớn đó, phong trào giải phóng dân tộc thực sự là một điểm sáng nổi bật trong bức tranh toàn cảnh về lịch sử thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nắm được rõ, hiểu được sâu, giải quyết được sáng tỏ về phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng giúp học sinh và cả bản thân giáo viên thông tường hơn về lịch sử các nước Á, Phi, Mĩ Latinh cũng như các

nước Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản và cả quan hệ quốc tế. Vì thế, trong quá trình ôn luyện cho học sinh, nhất là ôn luyện cho đối tượng học sinh giỏi, giáo viên cần đầu tư  thời gian và công sức tương xứng với tầm quan trọng của vấn đề này.
Từ năm 2015, Ban tổ chức Trại hè Hùng Vương đã quyết định dành thời gian cho các tổ chuyên môn nghiên cứu, trao đổi, đánh giá và thể hiện chính kiến, quan điểm của mình đối với công sức, trí tuệ và sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để cùng phát triển. Với tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn trình bày một số nội dung trong chuyên đề “Phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai” để tham gia Hội thảo Khoa học Trại hè Hùng Vương lần thứ XII, năm 2016, hy vọng có thể chia sẻ một số kinh nghiệm về nội dung này với các đồng nghiệp và góp phần nhỏ bé của mình vào sự thành công chung của Hội thảo.

2.     Mục đích của đề tài

“Phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai” gồm nhiều nội dung kiến thức, nhiều mốc thời gian, đòi hỏi học sinh vừa phải nắm được các  sự kiện, giai đoạn cụ thể của từng nước, từng khu vực, lại vừa phải có cái nhìn bao quát nhất để biết đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát và rút ra nhận xét, liên hệ thực tế. Vì thế, mục đích của chuyên đề này là hệ thống và chọn lọc các kiến thức, trên cơ sở đó đưa ra các câu hỏi và gợi ý trả lời (theo tôi là cần thiết và hữu ích) giúp các em học sinh dễ tiếp cận hơn, có hứng thú hơn khi ôn tập nội dung về “Phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai” và hiểu sâu sắc hơn về Lịch sử thế giới trong nửa sau thế kỷ XX, để có thể đạt kết quả cao hơn trong các kỳ thi Lịch sử.
 

B.  PHẦN NỘI DUNG

 
I-   Những nội dung chủ yếu về phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai

1.  Một số khái niệm

Khái niệm “Chủ nghĩa thực dân cũ” được dùng để chỉ chính sách, chế độ mà những nước tư bản sau khi xâm lược đã đặt ách thống trị trực tiếp lên các thuộc địa bằng hệ thống các quan chức và quân đội thực dân,...và trực tiếp bóc lột nhân dân thuộc địa.
Khái niệm “Chủ nghĩa thực dân mới” xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ hai, được dùng để chỉ các nước thực dân chuyển từ sự chiếm đóng, cai trị trực  tiếp

sang gián tiếp, bằng cách sử dụng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt hơn thông qua bọn tay sai bản xứ, bằng “viện trợ” kinh tế, quân sự với hệ thống cố vấn,...để tiếp tục thống trị các nước đã được độc lập về danh nghĩa.

2.   Khái quát những nội dung chủ yếu của phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Trước và trong chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Á, Phi, Mỹ - Latinh là thuộc địa hoặc phụ thuộc của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát xít. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhân dân các nước này đã nổi dậy đấu tranh giành độc lập, đưa đến sự ra đời của hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi.

a)  Giai đoạn 1: Từ năm 1945 đến năm 1949

Đây là giai đoạn phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và lan rộng ở Đông Nam Á, Nam Á, Đông Bắc Á, bước đầu làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thắng lợi của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít đã cổ vũ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Á, Phi, Mĩ Latinh bước vào một thời kỳ phát triển mới.
Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, nhân dân 3 nước Đông Nam Á (Inđônêxia, Việt Nam, Lào) đã nổi dậy giành chính quyền. Ngày 17/8/1945 Inđônêxia tuyên bố độc lập, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đến ngày 12/10/1945, Lào cũng tuyên bố độc lập.
Phong trào giải phóng dân tộc cũng lên cao mạnh mẽ ở Miến Điện, Mã Lai, Philippin, Ấn Độ, Trung Quốc, Xiri, Libăng...
Trước sự nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, các nước đế quốc cấu kết với nhau tìm cách đối phó. Được sự giúp đỡ của Mĩ, thực dân Anh, Pháp, Hà Lan lần lượt phát động các cuộc chiến tranh xâm lược trở lại các nước thuộc địa trước đây: Inđônêxia (11/1945), Mã Lai (12/1945), ba nước Đông Dương (12/1946)... Phong trào giải phóng dân tộc bước vào một thời kì khó khăn, quyết liệt để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Ở một số nơi, bằng những cuộc  chiến tranh xâm lược kết hợp với những thủ đoạn chính trị, các nước đế quốc đã tấn công vào phong trào giải phóng dân tộc.
Trong tình hình đó, ngày 1/10/1949, cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Với diện tích bằng 1/4 diện tích châu Á và dân số chiếm gần 1/4 dân số thế giới, thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc đã phá vỡ một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa

đế quốc, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa nối liền từ châu Âu sang châu Á.

b)  Giai đoạn 2:  Từ 1949 đến 1954

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với sự can thiệp và giúp đỡ của Mĩ, các nước Anh, Pháp, Italia..., đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ ở hầu hết các nước thuộc địa cũ của chúng ở Đông Nam Á, Nam Á... Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở Đông Nam Á và giành thắng lợi to lớn như ở Ấn Độ (giành được độc lập hoàn toàn, ngày 26/1/1950), ở các nước Bắc Phi (Ai Cập, Angiêri), đặc biệt là thắng lợi của ba nước Đông Dương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954).
Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam (5/1954) đã cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới cùng tiến lên mạnh mẽ. Như một phản ứng dây chuyền, trong nửa sau những năm 50 của thế kỉ XX, phong trào đấu tranh đã phát triển mạnh mẽ ở khắp các châu lục.

c)   Giai đoạn 3: Từ 1954 đến 1960

Phong trào giải phóng dân tộc bao trùm các nước Trung Đông lan nhanh  sang châu Phi và Mĩ Latinh. Chủ nghĩa đế quốc thực dân không thể ngăn cản nổi sự phát triển của phong trào, hệ thống thuộc địa của chúng tan rã nhanh chóng.
Chỉ 5 tháng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 1/11/1954, cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Angiêri bùng nổ và thắng lợi, chấm dứt 124 năm thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp.
Tháng 4/1955, Hội nghị Băngđung với sự tham gia của 29 nước Á, Phi được triệu tập. Hội nghị Băngđung đánh dấu việc các nước Á – Phi bắt đầu bước lên vũ đài quốc tế và tự quyết định lấy vận mệnh của mình. Lần đầu tiên trong lịch sử, các dân tộc ở Á - Phi đã đoàn kết với nhau thành một mặt trận thống nhất của các dân tộc áp bức chống chủ nghĩa đế quốc thực dân.
Sau Hội nghị Băngđung, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ như vũ bão, nhiều nước Á – Phi – Mĩ Latinh giành được độc lập dân tộc ở những mức độ khác nhau. Năm 1956, ba nước Tuynidi, Marốc, Xuđăng giành độc lập. Tháng 3/1957, nhân dân Bờ Biển Vàng (thuộc địa của Anh) tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Ganna, mở đầu thời kỳ nổi dậy của các dân tộc ở Tây Phi và châu Phi xích đạo. Tháng 7/1958, cách mạng Irắc bùng nổ, lật đổ chế độ quân chủ phản động ở đây và phá vỡ khối quân sự Bátđa, đánh dấu sự thắng lợi to lớn đầu tiên ở vùng Tây Á.

Ở Mĩ Latinh: Ngày 1/1/1959, cách mạng Cuba thành công, mở đầu thời kỳ bão táp cách mạng của “lục địa bùng cháy” - nơi được mệnh danh là “sân sau” của đế quốc Mĩ.
Thấy rõ không thể đè bẹp được ý chí đòi độc lập của các dân tộc, với tất cả sự khôn ngoan, xảo quyệt của mình, các nước phương Tây đã thay đổi thủ đoạn: tuyên bố trao trả độc lập cho các dân tộc, nhưng thật ra là để “đi nhưng mà ở” bằng việc kí kết các hiệp định khống chế, nô dịch dưới những hình thức mới.
Năm 1960 đã đi vào lịch sử với tên gọi “Năm châu Phi” với việc 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập, biến châu Phi thành “lục địa trỗi dậy” trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

d)  Giai đoạn 4: Từ 1960 đến 1975

Chủ nghĩa thực dân mới được hình thành ở một số nơi: Cônggô (châu Phi), Chilê (Mĩ Latinh) và áp dụng điển hình ở Việt Nam, Lào, Campuchia. Vì vậy, nội dung chính của phong trào giải phóng dân tộc giai đoạn này là tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới để bảo vệ, củng cố nền độc lập chính trị, giành thắng lợi về kinh tế; đồng thời, tiếp tục đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ.
Trước ý chí đòi độc lập của các dân tộc, năm 1960, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua “Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và các dân tộc thuộc địa”. Tuyên ngôn đã khẳng định các nước thực dân vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất của luật pháp quốc tế, khẳng định rõ ràng cơ sở pháp lý quốc tế của cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc. Tiếp đó, năm 1963, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tiếp tục thông qua “Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn các hình thức của chế độ phân biệt chủng tộc”, đòi xóa bỏ mọi đạo luật, mọi quy chế phân biệt chủng tộc, lên án mọi hoạt động tuyên truyền của các tổ chức phân biệt chủng tộc.
Từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX, nhân dân 3 nước Ăngôla, Môdămbích và Ghinê Bitxao đã đấu tranh chống lại chính quyền thực dân Bồ Đào Nha. Đến năm 1974, cách mạng Bồ Đào Nha thành công, chính quyền mới ở Bồ Đào Nha đã lần lượt tuyên bố trao trả độc lập cho 3 nước này: Ghinê Bitxao (1974), Ăngôla và Môdămbích (1975).
Cùng năm 1975, nhân dân Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia đã giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mĩ xâm lược, làm thất bại âm mưu của nghĩa thực dân mới ở đây.

Đến năm 1975 về cơ bản, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ. Các cuộc đấu tranh cuối cùng diễn ra chủ yếu ở Nam Phi nhằm chống chủ nghĩa thực dân đòi độc lập dân tộc và quyền sống của con người.

•         Giai đoạn 5: Từ 1975 đến nay

 
Cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Đông chống lại chế độ thực dân kiểu  mới của Mỹ đã giành được thắng lợi. Năm 1979, cách mạng Hồi giáo Iran thành công đã lật đổ chế độ độc tài thân Mỹ. Sau 40 năm đấu tranh (1948-1988), nền độc lập của Palextin đã được Liên Hợp Quốc công nhận. Năm 1989, nhà nước Palextin ra đời.
Ở khu vực Mỹ Latinh, đến năm 1983 đã có 13 nước thuộc vùng biển Caribê giành được độc lập. Trước cuộc đấu tranh dai dẳng của nhân dân Panama, Mỹ phải tuyên bố từ bỏ chủ quyền chiếm kênh đào và trả lại cho nước này vào năm 1999.
Từ cuối những năm 70, nhân dân 3 nước Nam Rôđêdia, Tây Nam Phi và Nam Phi đã đấu tranh chống lại chế độ phân biệt chủng tộc ở đây. Cuộc đấu tranh kiên cường của người da đen đã nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, cuối cùng họ đã giành được thắng lợi. Năm 1980, Nam Rôđêdia đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Dimbabuê. Năm 1990, Tây Nam Phi tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Namibia.
Ở Nam Phi, tháng 11/1993, chính quyền thực dân da trắng buộc phải tuyên bố xóa bỏ chế phân biệt chủng tộc (Apacthai). Sau đó, với thắng lợi của cuộc bầu cử dân chủ đa chủng tộc ở Nam Phi (4/1994), Nenxơn Manđêla trở thành vị Tổng thống người da đen đầu tiên của nước Cộng hòa Nam Phi, chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc đầy bất công, một vết nhơ trong lịch sử nhân loại.
Đến đây, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã hoàn toàn  sụp đổ. Lịch sử các nước Á, Phi, Mĩ Latinh bước vào thời kì xây dựng đất nước và phát triển kinh tế xã hội.
Tóm lại, sau Đại chiến II, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở cả châu Á, Phi và khu vực Mĩ latinh đều phát triển mạnh mẽ. Trước năm 1945, hầu hết các dân tộc vẫn rơi vào tình trạng thuộc địa, kể cả những nước Mĩ Latinh đã giải phóng khỏi chủ nghĩa thực dân cũ trước đó đều đang quằn quại dưới gót giầy của chủ nghĩa thực dân mới, thì từ sau năm 1945, các dân tộc này đều thoát khỏi kiếp nô lệ, ách thực dân, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ và kiểu mới - vốn rất bền vững trước chiến  tranh

thế giới thứ hai đã bị đánh đổ hoàn toàn. Đây là một trong những chuyển biến lớn lao nhất của lịch sử nhân loại thế kỷ XX.
Với thắng lợi ấy, hơn 100 quốc gia độc lập trẻ tuổi đã ra đời, rất sung sức tranh đấu và tràn đầy niềm hứng khởi. Các quốc gia này lần lượt bước lên vũ đài chính trị thế giới, trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc, khẳng định tiếng nói và vai trò của mình, làm cho bản đồ chính trị thế giới có những thay đổi to lớn và sâu sắc.
Sau khi giành độc lập, các nước Á, Phi, Mĩ Latinh bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước, đạt nhiều thành tựu to lớn. Có những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa như Inđônêxia, Philippin, Braxin…, có những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Việt Nam, Cuba. Nhiều nước có nền kinh tế khá phát triển và trở thành những nước công nghiệp mới  như Xingapo, Hàn Quốc ở châu Á, Braxin, Mêhicô ở Mĩ latinh… Tuy nhiên, ở nhiều nước, những thành tựu đạt được chưa đủ để làm thay đổi một cách căn bản bộ mặt kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lệ thuộc nặng nề do ách thống trị thuộc địa hàng trăm  năm để lại. Nền độc lập chính trị ở một số nước chưa được củng cố vững chắc bởi vì trước hết họ chưa có được một nền kinh tế tự chủ hoàn toàn.

II-   Hệ thống các câu hỏi về phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Câu 1:  Khái quát cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Nam Á từ sau

Chiến tranh thế giới thứ hai
*   Hướng dẫn học sinh trình bày các ý sau:
 
-   Giới thiệu về khu vực Đông Nam Á: Đông Nam Á là khu vực rộng 4,5 triệu km2, gồm 11 quốc gia, dân số 528 triệu người (năm 2000).
 
-   Khái quát về tình hình Đông Nam Á trước, trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai:
 
+ Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, các nước trong khu vực (trừ Thái Lan) đều là thuộc địa của các đế quốc Âu, Mĩ.
 
+ Khi chiến tranh bùng nổ, Nhật Bản xâm chiếm cả vùng Đông Nam Á. Từ cuộc đấu tranh chống thực dân Âu, Mĩ, nhân dân Đông Nam Á chuyển sang cuộc

đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng đất nước. Tận dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng đồng minh (8/1945), nhân dân nhiều nước đứng lên giành độc lập hoặc giải phóng phần lớn lãnh thổ khỏi ách chiếm đóng của quân Nhật.
 
·         Ngày 17/8/1945, Inđônêxia tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hoà Inđônêxia.
·         Ở Việt Nam, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công, dẫn tới sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/9/1945).
·         Tháng 8/1945, nhân dân các bộ tộc Lào nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 12/10/1945 nước Lào tuyên bố độc lập.
·         Nhân dân các nước Miến Điện, Mã Lai và Philippin đều nổi dậy đấu tranh chống quân phiệt Nhật Bản, giải phóng nhiều vùng rộng lớn.
 
+ Ngay sau đó, các nước thực dân Âu, Mĩ quay trở lại xâm lược Đông Nam Á. Nhân dân các nước Đông Nam Á lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống xâm lược.
 
+ Giữa những năm 50 (thế kỉ XX), nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, rồi tiếp tục chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ, đến năm 1975 giành thắng lợi hoàn toàn.
 
+ Các nước thực dân Âu, Mĩ cũng lần lượt công nhận nền độc lập của Philippin (7/1946), Miến Điện (1/1948), Inđônêxia (8/1950), Malaisia (8/1957), Singapore giành quyền tự trị (1959), Brunây (1984). Đông Timo trở thành một quốc gia độc lập (5/2002).
-   Kết luận: Như vậy, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á phát triển mạnh mẽ, liên tục, làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở khu vực này. Sau khi trở thành những quốc gia độc lập, các nước Đông Nam Á bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước, đạt nhiều thành tựu quan trọng như Xingapo, Brunây, Thái Lan...

Câu 2: Hãy chia mốc phát triển thắng lợi của cách mạng Lào từ năm 1945 đến năm 1975 và giải thích tại sao lại chia như vậy? Phân tích ý nghĩa thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Lào trong giai đoạn 1954-1975.

* Hướng dẫn: Học sinh cần chọn lọc được các mốc thắng lợi quan trọng và lấy nội dung lịch sử cơ bản diễn ra trong từng giai đoạn để giải thích.
-   Mốc 1945: Lào tuyên bố độc lập.

+ Nhân cơ hội phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân Lào đã tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền và tuyên bố độc lập (12/10/1945).
-   Mốc 1954: Kháng chiến chống Pháp thành công.
+ Đây là thời kỳ nhân dân Lào đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai của Pháp, bảo vệ nền độc lập; phối hợp với nhân dân Việt Nam, giành nhiều thắng lợi. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) ở Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, trong đó có Lào.
-   Mốc 1975: Kháng chiến chống Mĩ thắng lợi.
+ Sau năm 1954, Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới ở Lào. Bị thất bại trong “chiến tranh đặc biệt” và “chiến tranh đặc biệt tăng cường”, Mĩ và tay sai buộc phải ký Hiệp định Viêng Chăn (2/1973) lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào.
+ Từ 1973-1975: Nhân dân Lào tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời (2/12/1975).
- Ý nghĩa:
+ Đánh thắng thực dân phát xít Nhật, thực dân Pháp và xâm lược Mỹ, giành độc lập, dân chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
+ Đưa nước Lào bước sang thời kỳ mới...

Câu 3: Nêu nội dung chính các giai đoạn của lịch sử Campuchia từ năm 1945 đến năm 1993

 
* Hướng dẫn trả lời: Lịch sử Campuchia từ năm 1945 đến năm 1993 có thể chia thành các giai đoạn sau:
 
a)  Chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc (1945-1954)
 
+ Tháng 10/1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược Campuchia, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương (từ năm 1951 là Đảng nhân dân Cách mạng Campuchia), nhân dân Campuchia đứng lên kháng chiến….
 
+ Ngày 9/11/1953, do cuộc vận động ngoại giao đòi độc lập của Xihanuc, Pháp kí hiệp ước “trao trả độc lập cho Campuchia”. Tuy vậy, quân đội Pháp vẫn chiếm đóng Campuchia.

+ Sau thất bại ở Điện Biên Phủ (1954), thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào và Việt Nam.
 
b)    Giai đoạn 1954 – 1970: Chính phủ Xihanuc thực hiện chính sách hoà bình, trung lập, không tham gia bất cứ khối liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía không có điều kiện ràng buộc.
 
c)   Kháng chiến chống Mĩ (1970-1975)
 
+ Chính phủ Xihanúc bị thế lực tay sai của Mĩ lật đổ (18/3/1970). Từ đây nhân dân Campuchia cùng nhân dân Việt Nam, Lào tiến hành kháng chiến chống Mĩ.
 
+ Từ tháng 9/1973, lực lượng vũ trang Campuchia liên tục tiến công, bao vây thủ đô Phnôm Pênh và các thành phố lớn khác.
 
+ Mùa xuân năm 1975, quân dân Campuchia mở cuộc tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch, giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (17/4/1975), kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
 
d)  Cuộc đấu tranh lật đổ tập đoàn Khơme đỏ (1975-1979)
 
+ Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cách mạng Campuchia bị phản bội. Tập đoàn Pôn-pốt thi hành chính sách diệt chủng.
 
+ Nhân dân Campuchia lại phải tiến hành cuộc đấu tranh chống chế độ diệt chủng. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia (thành lập  ngày 3/12/1978), với sự giúp đỡ của Việt Nam, quân và dân Campuchia nổi dậy ở nhiều nơi. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng. Nhân dân Campuchia bước vào thời kì xây dựng lại đất nước.
 
e)   Nội chiến và tái lập vương quốc (1979-1993)
 
+ Từ năm 1979 cuộc nội chiến diễn ra giữa lực lượng của Đảng nhân dân với phe phái đối lập, chủ yếu với Khơme đỏ.

+ Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình về Campuchia được kí kết tại Pari. Sau cuộc Tổng tuyển cử tháng 9/1993, Quốc hội Campuchia thông qua Hiến pháp, tuyên bố thành lập Vương quốc Campuchia do Xihanuc làm quốc vương. Đất nước Campuchia bước vào một thời kì mới.

Câu 4: Trình bày phong trào đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ (1945 – 1950)

 *. Cuộc đấu tranh giành độc lập
- Ấn Độ là một nước lớn ở châu Á và đông dân thứ hai thế giới (1 tỉ 20 triệu người, năm 2000).
-   Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh chống thực dân Anh, giành độc lập dân tộc ở Ấn Độ do Đảng Quốc đại lãnh đạo phát triển mạnh mẽ.
-   Năm 1946, ở Ấn Độ xảy ra 848 cuộc bãi công. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của 2 vạn thủy binh trên 20 chiến hạm ở Bom-bay ngày 19/2/1946, chống đế quốc Anh, đòi độc lập.
-    Tháng 2/1946, 20 vạn công nhân, học sinh, sinh viên Bombay bãi công tuần hành, mít tinh chống thực dân Anh.
-   Phong trào ở Bombay đã kéo theo hàng hoạt cuộc nổi dậy của quần chúng  ở Cancútta, Mađrát, Karasi…; những cuộc xung đột vũ trang của nông dân với địa chủ và chính quyền thực dân ở các tỉnh diễn ra liên tục.
-   Năm 1947, cao trào bãi công của công nhân tiếp tục bùng nổ ở nhiều thành phố lớn như cuộc bãi công của hơn 40 vạn công nhân ở Cancútta (tháng 2/1947).
-   Kết quả: Trước sức ép của phong trào đấu tranh, thực dân Anh buộc phải nhượng bộ, nhưng lại trao quyền tự trị cho Ấn Độ theo “phương án Maobáttơn”. Theo đó, ngày 15/8/1947, hai nhà nước tự trị ấn Độ và Pakixtan ra đời...
-    Không thỏa mãn với qui chế tự trị, Đảng Quốc đại do Nêru đứng đầu đã lãnh đạo nhân dân tiếp tục đấu tranh, làm cho thực dân Anh buộc phải công nhận nền độc lập hoàn toàn của Ấn Độ.
-    Ngày 26/1/1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập hoàn toàn và thành lập nước Cộng hòa Ấn Độ, xóa bỏ mọi lệ thuộc vào thực dân Anh.

*  Ý nghĩa

-   Thắng lợi của cuộc đấu tranh giành độc lập ở Ấn Độ là thành quả của cuộc đấu tranh liên tục, mạnh mẽ của nhân dân Ấn Độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại...
-    Đưa Ấn Độ bước sang một thời kỳ mới – thời kỳ độc lập, tự do để xây  dựng và phát triển đất nước.
-   Thắng lợi của cách mạng Ấn Độ có ảnh hưởng lớn to lớn đến phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới...
 Câu 5:  Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mĩ Latinh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã chứng kiến những dấu mốc tiêu biểu như:
Ngày 02/09/1945 Ngày 01/10/1949 Ngày 26/01/1950 Ngày 01/01/1959 Năm 1960
Năm 1994

- Hãy nêu và phân tích ý nghĩa của những sự kiện diễn ra trong những mốc thời gian trên.
(Học sinh dựa vào những kiến thức đã được học sẽ nêu được nội dung và ý nghĩa của các sự kiện trên để từ đó nhớ lại một số mốc quan trọng nhất của phong trào giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai).
iệc dạy và học Lịch sử trong giai đoạn hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, nhất là việc giảng dạy cho đối tượng học sinh giỏi luôn luôn là niềm trăn trở của các giáo viên, trước hết là giáo viên trường Chuyên. Bồi dưỡng học sinh giỏi là trách nhiệm, nghĩa vụ đầy gian nan, thử thách nhưng cũng hết sức vẻ vang, là nơi thể hiện rõ nhất lòng yêu nghề, niềm đam mê với nghề của giáo viên. Do đó, cùng nhau xây dựng các chuyên đề dạy học là việc làm thiết thực, ý nghĩa, mang lại hiệu quả to lớn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 
1/ Đỗ Thanh Bình, Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX, một cách tiếp cận, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006.
2/ Trần Bá Đệ (Chủ biên), Hướng dẫn thi Đại học – Cao đẳng môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2004.
3/ Vũ Quang Hiển (Chủ biên), Bộ đề thi môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2014.
4/ Nguyễn Thành Nhân, Trần Thị Hải Lê, Giải 25 đề thi môn Lịch sử, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2010.
5/ Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2002.

Tác giả:

Nguyễn Thị Tâm

  • Chia sẻ trên
Bạn có thể gửi thắc mắc tại đây
Bình luận bài viết